<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?><rss version="2.0" xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/" xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"><channel><title>VnEconomy - Nhịp sống kinh tế Việt Nam &amp; Thế giới</title><description>VnEconomy - Góc nhìn toàn cảnh về nền kinh tế Việt Nam</description><lastBuildDate>Fri, 29 May 2026 07:00:58 GMT</lastBuildDate><image><url>https://6pg88vn.com/_media_/App_themes/images/logo.png</url><title>VnEconomy - Nhịp sống kinh tế Việt Nam &amp; Thế giới</title><link>https://6pg88vn.com</link></image><generator>VnEconomy</generator><link>https://6pg88vn.com</link><item><title>[Phóng sự ảnh] Gần 125.000 học sinh Hà Nội bước vào kỳ thi lớp 10</title><description>S#225;ng ng#224;y 29/5, gần 125.000 th#237; sinh H#224; Nội đến điểm thi l#224;m thủ tục dự thi lớp 10 năm 2026, nghe phổ biến quy chế v#224; kiểm tra th#244;ng tin trước khi bước v#224;o m#244;n thi đầu ti#234;n…</description><pubDate>Fri, 29 May 2026 07:00:58 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/phong-su-anh-gan-125000-hoc-sinh-ha-noi-buoc-vao-ky-thi-lop-10.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/phong-su-anh-gan-125000-hoc-sinh-ha-noi-buoc-vao-ky-thi-lop-10.htm</guid><atom:link href="/phong-su-anh-gan-125000-hoc-sinh-ha-noi-buoc-vao-ky-thi-lop-10.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/af676119981a4614960c85577b337730-93721.jpg?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Sáng ngày 29/5, gần 125.000 thí sinh Hà Nội đến điểm thi làm thủ tục dự thi lớp 10 năm 2026, nghe phổ biến quy chế và kiểm tra thông tin trước khi bước vào môn thi đầu tiên…</h2><p class="text-justify">Năm nay, Hà Nội bố trí 224 điểm thi với khoảng 5.300 phòng
thi chính thức và gần 400 phòng thi dự phòng. Sở Giáo dục – Đào tạo Hà Nội cho
biết, tổng số thí sinh đăng ký dự tuyển vào lớp 10 công lập năm học 2026-2027
là gần 125.000 em (tăng hơn 21.000 thí sinh so với năm ngoái). </p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, tổng
chỉ tiêu của 122 trường công lập không chuyên chỉ khoảng 79.533 học sinh. Ngoài
ra còn có hơn 16.000 lượt đăng ký vào các khối chuyên. “Năm 2026, Hà Nội có số lượng học sinh dự thi vào lớp 10 rất
đông, số điểm thi cũng tăng nhiều so với năm trước”, Phó Giám đốc Sở Giáo dục –
Đào tạo Nguyễn Quang Tuấn nói. </p>
<p class="text-justify">Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT công lập năm học 2026 - 2027
tại Hà Nội sẽ diễn ra trong hai ngày 30 và 31/5. Những thí sinh đăng ký dự thi
vào các trường chuyên tiếp tục thi môn chuyên vào ngày 1/6. Hà Nội tổ chức 3
bài thi độc lập gồm Toán, Ngữ văn và Ngoại ngữ. Trong đó, môn Toán và Ngữ văn
thi tự luận trong 120 phút; môn Ngoại ngữ thi trắc nghiệm 60 phút với nhiều mã
đề khác nhau trong cùng phòng thi.</p>
<p class="text-justify">Đề thi được xây dựng theo Chương trình giáo dục phổ thông
2018, bám sát cấu trúc đề minh họa đã công bố và chủ yếu nằm trong chương trình
lớp 9. Một điểm mới đáng chú ý là ở các môn Khoa học tự nhiên, Ngoại ngữ và Lịch
sử - Địa lý của kỳ thi chuyên, thí sinh sẽ làm bài trực tiếp vào đề thi thay vì
giấy thi riêng như trước.</p>
<p class="text-justify">Năm nay, thành phố đưa vào sử dụng tiện ích "Tra cứu địa
điểm thi lớp 10 THPT" trên ứng dụng iHanoi. Thông qua bản đồ số, học sinh
và phụ huynh có thể tra cứu nhanh vị trí điểm thi, mã điểm thi, số phòng thi và
lên kế hoạch di chuyển phù hợp.</p>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93703">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/dd00ee8ac216472ca8ce4dbc68a1cf38-93703.jpg" alt="[Phóng sự ảnh] Gần 125.000 học sinh Hà Nội bước vào kỳ thi lớp 10 - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93704">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/f5225e82904a4b8e980ecc81260fa8d4-93704.jpg" alt="Buổi tập trung đầu tiên này đóng vai trò quyết định đến tính chính xác về thông tin nhân thân và quyền lợi xét tuyển của thí sinh, đồng thời thiết lập kỷ cương cho toàn bộ kỳ thi diễn ra trong những ngày tới.">
<figcaption>Buổi tập trung đầu tiên này đóng vai trò quyết định đến tính chính xác về thông tin nhân thân và quyền lợi xét tuyển của thí sinh, đồng thời thiết lập kỷ cương cho toàn bộ kỳ thi diễn ra trong những ngày tới.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93705">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/68add74bc75c4d7fba9381c1a6317908-93705.jpg" alt="[Phóng sự ảnh] Gần 125.000 học sinh Hà Nội bước vào kỳ thi lớp 10 - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93706">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/ea12f29bddb44e3fa049635e954684e7-93706.jpg" alt="Tại buổi làm thủ tục, thí sinh cần mang theo giấy báo dự thi, kiểm tra kỹ họ tên, số báo danh, nguyện vọng... và báo ngay cho giám thị nếu phát hiện sai sót.">
<figcaption>Tại buổi làm thủ tục, thí sinh cần mang theo giấy báo dự thi, kiểm tra kỹ họ tên, số báo danh, nguyện vọng... và báo ngay cho giám thị nếu phát hiện sai sót.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93707">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/bbb2a9a4549347018f4490b5ce8f5438-93707.jpg" alt="[Phóng sự ảnh] Gần 125.000 học sinh Hà Nội bước vào kỳ thi lớp 10 - Ảnh 3">
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93708">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/db2eddae2e154f548da82f8a76578a78-93708.jpg" alt="Theo quy định, ngay từ buổi làm thủ tục này, thí sinh không được mang điện thoại di động, đồng hồ thông minh hoặc bất kỳ thiết bị có khả năng thu phát tín hiệu vào khu vực phòng thi.">
<figcaption>Theo quy định, ngay từ buổi làm thủ tục này, thí sinh không được mang điện thoại di động, đồng hồ thông minh hoặc bất kỳ thiết bị có khả năng thu phát tín hiệu vào khu vực phòng thi.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93709">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/463934fb29a84546ac607983ef21a929-93709.jpg" alt="[Phóng sự ảnh] Gần 125.000 học sinh Hà Nội bước vào kỳ thi lớp 10 - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93710">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/95f2e6fc0da241b2b437a9e07f44845a-93710.jpg" alt="Điểm thi Trường Trung học phổ thông Yên Hòa có 18 phòng thi với 432 thí sinh.">
<figcaption>Điểm thi Trường Trung học phổ thông Yên Hòa có 18 phòng thi với 432 thí sinh.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93712">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/ef6be29b9fae43eebe4d98e2ee52833d-93712.jpg" alt="[Phóng sự ảnh] Gần 125.000 học sinh Hà Nội bước vào kỳ thi lớp 10 - Ảnh 5">
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93711">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/a8b55476700349b1bdd6dcda54a207fd-93711.jpg" alt="Sát ngày thi, Hà Nội trải qua đợt nắng nóng kỷ lục khiến nhiều ông bố, bà mẹ bất an. Nỗi lo thường trực là con ốm đúng ngày dự thi thì mọi nỗ lực sẽ uổng phí. ">
<figcaption>Sát ngày thi, Hà Nội trải qua đợt nắng nóng kỷ lục khiến nhiều ông bố, bà mẹ bất an. Nỗi lo thường trực là con ốm đúng ngày dự thi thì mọi nỗ lực sẽ uổng phí. </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93713">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/4ea91476917d4760a390a3aef34ebb9c-93713.jpg" alt="[Phóng sự ảnh] Gần 125.000 học sinh Hà Nội bước vào kỳ thi lớp 10 - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93714">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/673a09f6209e49c9adee60d7e5fcee76-93714.jpg" alt="Phụ huynh, học sinh cần đọc thông tin về điểm thi trong phiếu báo thi để đến đúng điểm thi và đúng giờ. ">
<figcaption>Phụ huynh, học sinh cần đọc thông tin về điểm thi trong phiếu báo thi để đến đúng điểm thi và đúng giờ. </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93715">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/2b2f2d3a4ce147cb8c69cb97c682d9ad-93715.jpg" alt="[Phóng sự ảnh] Gần 125.000 học sinh Hà Nội bước vào kỳ thi lớp 10 - Ảnh 7">
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93716">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/cd7451a63899457f90c785f476173928-93716.jpg" alt=" Thí sinh kiểm tra kỹ họ tên, số báo danh tại phòng thi Trường Trung học cơ sở Thanh Xuân Trung.">
<figcaption> Thí sinh kiểm tra kỹ họ tên, số báo danh tại phòng thi Trường Trung học cơ sở Thanh Xuân Trung.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93717">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/06aea6a81b614ddb98b6a29c7c983666-93717.jpg" alt="[Phóng sự ảnh] Gần 125.000 học sinh Hà Nội bước vào kỳ thi lớp 10 - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-overBoth " id="93718">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/29/fdb7b57581284477b835b14faa5ed18d-93718.jpg" alt="Ban chỉ đạo thi thành phố yêu cầu UBND các xã, phường bố trí địa điểm chờ cho phụ huynh tại khu vực gần điểm thi. Việc này nhằm giúp phụ huynh có nơi nghỉ trong thời gian chờ đón con, nhất là trong điều kiện thời tiết nắng nóng.">
<figcaption>Ban chỉ đạo thi thành phố yêu cầu UBND các xã, phường bố trí địa điểm chờ cho phụ huynh tại khu vực gần điểm thi. Việc này nhằm giúp phụ huynh có nơi nghỉ trong thời gian chờ đón con, nhất là trong điều kiện thời tiết nắng nóng.</figcaption>
</figure>
<div class="content-box align-center box_content box_content-2 "><p class="text-justify">Năm nay, Hà Nội tiếp tục áp dụng nhiều thay đổi trong tuyển sinh lớp 10 nhằm giảm áp lực cho học sinh. Thay vì phân chia khu vực tuyển sinh như trước, học sinh được đăng ký tối đa 3 nguyện vọng bất kỳ vào các trường THPT công lập không chuyên trên toàn thành phố.</p>
<p class="text-justify">Sở GDĐT Hà Nội cho biết việc bỏ điều kiện hộ khẩu thường trú và mở rộng lựa chọn trường giúp tăng cơ hội học tập, hướng tới tuyển sinh công bằng và giảm áp lực tâm lý cho học sinh, phụ huynh.</p>
<p class="text-justify">Theo kế hoạch, điểm thi và điểm chuẩn lớp 10 công lập dự kiến được công bố trong khoảng từ 19 đến 22/6. Thí sinh xác nhận nhập học từ ngày 25 đến 27/6 và nộp hồ sơ nhập học từ ngày 4 đến 6/7.</p>
</div>
<p style='text-align:right;'><em>-Phương Thảo</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>[Phóng sự ảnh]: Hội thảo khoa học quốc gia hiến kế mô hình phát triển mới cho Việt Nam</title><description>Hội thảo tập trung thảo luận bốn nh#243;m nội dung lớn gồm: đ#225;nh gi#225; to#224;n diện m#244; h#236;nh ph#225;t triển của Việt Nam qua c#225;c thời kỳ; ph#226;n t#237;ch bối cảnh quốc tế v#224; c#225;c xu hướng mới; đề xuất cấu tr#250;c v#224; c#225;c trụ cột của m#244; h#236;nh ph#225;t triển mới; x#225;c định c#225;c đột ph#225; để bảo đảm ph#225;t triển nhanh, bền vững...</description><pubDate>Tue, 26 May 2026 10:23:19 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/phong-su-anh-hoi-thao-khoa-hoc-quoc-gia-hien-ke-mo-hinh-phat-trien-moi-cho-viet-nam.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/phong-su-anh-hoi-thao-khoa-hoc-quoc-gia-hien-ke-mo-hinh-phat-trien-moi-cho-viet-nam.htm</guid><atom:link href="/phong-su-anh-hoi-thao-khoa-hoc-quoc-gia-hien-ke-mo-hinh-phat-trien-moi-cho-viet-nam.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/0db4ac52352b4a17bbb178fb4c0b6020-92788.jpg?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Hội thảo tập trung thảo luận bốn nhóm nội dung lớn gồm: đánh giá toàn diện mô hình phát triển của Việt Nam qua các thời kỳ; phân tích bối cảnh quốc tế và các xu hướng mới; đề xuất cấu trúc và các trụ cột của mô hình phát triển mới; xác định các đột phá để bảo đảm phát triển nhanh, bền vững...</h2><p class="text-justify">Triển khai Chương trình hành động của Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng và nhiệm vụ được Bộ Chính trị giao, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương đang chủ trì, phối hợp các ban, bộ, ngành trung ương và cơ quan liên quan xây dựng Đề án “Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” trình Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV.</p>
<p class="text-justify">Để cung cấp luận cứ phục vụ xây dựng Đề án, Ban Chính sách, chiến lược Trung ương phối hợp cùng Học Viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Hội đồng Lý luận Trung ương, Thành ủy Hải Phòng, Tạp chí Cộng sản, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia sự thật và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học quốc gia với chủ đề <b><i>“Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số” </i></b>vào sáng ngày 26 tháng 5 năm 2026 tại Trung tâm Hội nghị - Biểu diễn, Phường Thủy Nguyên, TP. Hải Phòng.</p>
<p class="text-justify">Hội thảo có sự tham dự và chủ trì của: Đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương; Đồng chí Đoàn Minh Huấn, Ủy viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Đồng chí Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị Khóa XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương; Đồng chí Lê Ngọc Châu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hải Phòng; Đồng chí Dương Trung Ý, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Tổng Biên tập Tạp chí Cộng sản; Đồng chí Vũ Trọng Lâm, Giám đốc Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật; và đại diện Lãnh đạo Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Với mục đích cung cấp luận cứ khoa học cho quá trình xây dựng Đề án Đổi mới mô hình phát đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, hội thảo sẽ thảo luận, đánh giá toàn các nội dung chính sau:</p>
<p class="text-justify">(i)<i> Làm rõ cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về mô hình phát triển quốc gia; về đổi mới mô hình phát triển quốc gia dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;</i></p>
<p class="text-justify">(ii) <i>Làm rõ chủ trương, đường lối của Đảng về mô hình phát triển đất nước qua 40 năm Đổi mới; về chủ trương, đường lối của Đảng trong Văn kiện Đại hội XIV về đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, đối ngoại và hội nhập quốc tế);</i></p>
<p class="text-justify">(iii) <i>Làm rõ thực trạng đổi mới mô hình phát triển của Việt Nam qua 40 năm Đổi mới, các kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm về đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, đối ngoại và hội nhập quốc tế);</i></p>
<p class="text-justify">(iv) <i>Làm rõ kinh nghiệm của các địa phương tiêu biểu trong cả nước, trong đó có Thành phố Hải Phòng về đổi mới mô hình phát triển; các mô hình mới, cách làm hay về các lĩnh vực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hội nhập quốc tế …. để thực hiện mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và bao trùm;</i></p>
<p class="text-justify">(v) <i>Phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước; phân tích xu thế, dự báo chiến lược và định hướng tương lai Việt Nam đến năm 2045;</i></p>
<p class="text-justify">(vi) <i>Xác lập những nội dung chủ yếu của mô hình phát triển đất nước giai đoạn 2026-2045 (về triết lý, nền tảng, trụ cột, động lực, cơ chế vận hành…). Đề xuất những quan điểm, mục tiêu, lộ trình, nhiệm vụ và giải pháp đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để chuyển đổi thành công sang mô hình phát triển mới, góp phần hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045, Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao.</i></p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92765">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/c18abb687b7e40e5ae33a69de796670e-92765.jpg" alt="TS. Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương (người đứng thứ 5 từ trái sang); PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (người đứng thứ 4 từ trái sang); GS. TS Nguyễn Xuân Thắng, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (người thứ 4 từ phải sang), và đồng chí Lê Ngọc Châu, Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành uỷ, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hải Phòng (người thứ 3 từ phải sang) cùng các đại biểu chụp ảnh lưu niệm trước phiên khai mạc. ">
<figcaption>TS. Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương (người đứng thứ 5 từ trái sang); PGS.TS Đoàn Minh Huấn, Uỷ viên Bộ Chính trị, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (người đứng thứ 4 từ trái sang); GS. TS Nguyễn Xuân Thắng, Uỷ viên Bộ Chính trị khoá XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương (người thứ 4 từ phải sang), và đồng chí Lê Ngọc Châu, Uỷ viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành uỷ, Trưởng đoàn Đại biểu Quốc hội Thành phố Hải Phòng (người thứ 3 từ phải sang) cùng các đại biểu chụp ảnh lưu niệm trước phiên khai mạc. </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92766">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/bd339d0a01464c218672c3df4aaf2171-92766.jpg" alt="Hội thảo có sự tham dự và đồng chủ trì của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: TS. Nguyễn Thanh Nghị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương; PGS. TS Đoàn Minh Huấn, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng; GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, cùng các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Lãnh đạo Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.">
<figcaption>Hội thảo có sự tham dự và đồng chủ trì của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: TS. Nguyễn Thanh Nghị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương; PGS. TS Đoàn Minh Huấn, Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh; Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương Nguyễn Xuân Thắng; GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, cùng các đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng, các đồng chí lãnh đạo Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật, Lãnh đạo Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92774">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/5bdf6f9660dc4eecb271d716697817a9-92774.jpg" alt="Hội thảo có sự phối hợp chuyên môn của Tạp chí Cộng sản, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam. ">
<figcaption>Hội thảo có sự phối hợp chuyên môn của Tạp chí Cộng sản, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật và Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam. </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92776">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/2cdd13be7f2b47bc8fd2eafe935c4f3a-92776.jpg" alt="Hội thảo còn có sự tham gia, đóng góp ý kiến của gần 300 đại biểu là đại diện các Ban, Bộ, ngành Trung ương, các Ủy ban của Quốc hội, Hội đồng lý luận Trung ương; các địa phương; các Viện Nghiên cứu; các chuyên gia, nhà khoa học; các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.">
<figcaption>Hội thảo còn có sự tham gia, đóng góp ý kiến của gần 300 đại biểu là đại diện các Ban, Bộ, ngành Trung ương, các Ủy ban của Quốc hội, Hội đồng lý luận Trung ương; các địa phương; các Viện Nghiên cứu; các chuyên gia, nhà khoa học; các tổ chức quốc tế tại Việt Nam.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92768">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/bbde273597d54a4db76786059d36c474-92768.jpg" alt="Phát biểu khai mạc và chỉ đạo hội thảo, TS. Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho rằng mô hình tăng trưởng hiện nay đang bộc lộ nhiều hạn chế khi còn phụ thuộc lớn vào vốn, lao động và khai thác tài nguyên; năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao; năng lực đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ còn hạn chế. Vì vậy, Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là lựa chọn chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước. ">
<figcaption>Phát biểu khai mạc và chỉ đạo hội thảo, TS. Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho rằng mô hình tăng trưởng hiện nay đang bộc lộ nhiều hạn chế khi còn phụ thuộc lớn vào vốn, lao động và khai thác tài nguyên; năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế chưa cao; năng lực đổi mới sáng tạo và làm chủ công nghệ còn hạn chế. Vì vậy, Đổi mới mô hình phát triển đất nước dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số không chỉ là yêu cầu khách quan, mà còn là lựa chọn chiến lược có ý nghĩa quyết định đối với tương lai phát triển của đất nước. </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92772">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/d1eb144350d1488396836683c785ee40-92772.jpg" alt="Phát biểu đề dẫn cho hội thảo, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải xác lập mô hình phát triển mới cho Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển nhanh, bền vững và tự chủ chiến lược.">
<figcaption>Phát biểu đề dẫn cho hội thảo, GS.TS Nguyễn Xuân Thắng, Ủy viên Bộ Chính trị khóa XIII, Chủ tịch Hội đồng Lý luận Trung ương, nhấn mạnh yêu cầu cấp thiết phải xác lập mô hình phát triển mới cho Việt Nam trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển nhanh, bền vững và tự chủ chiến lược.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92786">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/5cf04da4219b4a80ae52b6a543e16202-92786.jpg" alt="Tại phiên tham luận chính, trong bài tham luận với chủ đề: " 5 giải pháp để việt nam phát triển nhanh và bền vững 20 năm (2026-2045), trở thành nước giàu mạnh, phát triển bền vững, người dân hạnh phúc trong thế kỷ 21", gs.ts. nguyễn thiện nhân, nguyên ủy viên bộ chính trị, nguyên phó thủ tướng chính phủ, nhấn mạnh rằng để định hình mô hình phát triển quốc gia trong thế kỷ 21, việt nam cần chủ động lựa chọn con đường phù hợp với điều kiện thực tiễn của mình, đồng thời quan sát, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác.">
<figcaption>Tại phiên tham luận chính, trong bài tham luận với chủ đề: "5 giải pháp để Việt Nam phát triển nhanh và bền vững 20 năm (2026-2045), trở thành nước giàu mạnh, phát triển bền vững, người dân hạnh phúc trong thế kỷ 21", GS.TS. Nguyễn Thiện Nhân, nguyên Ủy viên Bộ Chính trị, nguyên Phó Thủ tướng Chính phủ, nhấn mạnh rằng để định hình mô hình phát triển quốc gia trong thế kỷ 21, Việt Nam cần chủ động lựa chọn con đường phù hợp với điều kiện thực tiễn của mình, đồng thời quan sát, học hỏi kinh nghiệm từ các quốc gia khác.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92787">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/a5047c93034649d38fcf05f47d051e71-92787.jpg" alt="Phát biểu chào mừng, ng Lê Ngọc Châu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hải Phòng, cho biết Hải Phòng hướng tới xây dựng trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ biển của cả nước. Tuy vậy, lãnh đạo Hải Phòng cũng nhìn nhận nhiều vấn đề mới đang đặt ra liên quan đến hoàn thiện thể chế phát triển khoa học công nghệ, cơ chế huy động nguồn lực, đào tạo và trọng dụng nhân lực chất lượng cao để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển...">
<figcaption>Phát biểu chào mừng, ng Lê Ngọc Châu, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bí thư Thành ủy Hải Phòng, cho biết Hải Phòng hướng tới xây dựng trung tâm quốc tế về đào tạo, nghiên cứu và ứng dụng khoa học công nghệ biển của cả nước. Tuy vậy, lãnh đạo Hải Phòng cũng nhìn nhận nhiều vấn đề mới đang đặt ra liên quan đến hoàn thiện thể chế phát triển khoa học công nghệ, cơ chế huy động nguồn lực, đào tạo và trọng dụng nhân lực chất lượng cao để khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển...</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92780">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/1e85e8d303d4457980b12322de3e54b5-92780.jpg" alt="Là người đầu tiên trình bày tham luận tại phiên tham luận chính, GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nhận định đổi mới mô hình phát triển phải bắt đầu từ đổi mới quản trị quốc gia. Trong đó, quá trình tái cấu trúc bộ máy cần tiếp tục theo hướng tinh gọn, rõ đầu mối nhưng đồng thời phải bảo đảm phối hợp liên ngành, liên vùng để tránh tình trạng phân mảnh trong điều hành. ">
<figcaption>Là người đầu tiên trình bày tham luận tại phiên tham luận chính, GS.TS Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, nhận định đổi mới mô hình phát triển phải bắt đầu từ đổi mới quản trị quốc gia. Trong đó, quá trình tái cấu trúc bộ máy cần tiếp tục theo hướng tinh gọn, rõ đầu mối nhưng đồng thời phải bảo đảm phối hợp liên ngành, liên vùng để tránh tình trạng phân mảnh trong điều hành. </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92778">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/11be899270c34a558ddfe7202d6f1987-92778.jpg" alt="Với chủ đề: " kỷ nguyên phát triển mới của việt nam: xây dựng năng lực sản xuất thông qua khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo", à francesca nardini, phó trưởng đại diện thường trú chương trình phát triển liên hợp quốc (undp), nhận định việt nam đã đạt được thành tựu phát triển “chưa từng có tiền lệ”, khi vừa duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa đưa hàng triệu người thoát nghèo trong khoảng thời gian tương đối ngắn. đây là thành công mà không nhiều quốc gia trên thế giới có thể đạt được. tuy nhiên mô hình phát triển dựa trên xuất khẩu, cùng lợi thế lao động giá rẻ... đã phát huy hiệu quả trong nhiều năm qua, nhưng sẽ khó tiếp tục tạo ra mức tăng trưởng hai con số trong tương lai.">
<figcaption>Với chủ đề: "Kỷ nguyên phát triển mới của Việt Nam: Xây dựng năng lực sản xuất thông qua khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo", à Francesca Nardini, Phó Trưởng Đại diện Thường trú Chương trình Phát triển Liên Hợp Quốc (UNDP), nhận định Việt Nam đã đạt được thành tựu phát triển “chưa từng có tiền lệ”, khi vừa duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao, vừa đưa hàng triệu người thoát nghèo trong khoảng thời gian tương đối ngắn. Đây là thành công mà không nhiều quốc gia trên thế giới có thể đạt được. Tuy nhiên mô hình phát triển dựa trên xuất khẩu, cùng lợi thế lao động giá rẻ... đã phát huy hiệu quả trong nhiều năm qua, nhưng sẽ khó tiếp tục tạo ra mức tăng trưởng hai con số trong tương lai.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92785">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/0298c47bc3df45eaa688ee187f3b7578-92785.jpg" alt="Với sự chuẩn bị nội dung công phu, hàm lượng tri thức và tính thực tiễn cao, hội thảo được các chuyên gia, nhà khoa học đánh giá là diễn đàn học thuật có ý nghĩa quan trọng, góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình phát triển mới của đất nước trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng sâu sắc.">
<figcaption>Với sự chuẩn bị nội dung công phu, hàm lượng tri thức và tính thực tiễn cao, hội thảo được các chuyên gia, nhà khoa học đánh giá là diễn đàn học thuật có ý nghĩa quan trọng, góp phần cung cấp thêm cơ sở lý luận và thực tiễn cho việc xây dựng mô hình phát triển mới của đất nước trong bối cảnh chuyển đổi số và cạnh tranh công nghệ toàn cầu ngày càng sâu sắc.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92658">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/45b0272e4aff40cda4094d8f5dde81a9-92658.jpg" alt="[Phóng sự ảnh]: Hội thảo khoa học quốc gia hiến kế mô hình phát triển mới cho Việt Nam - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92734">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/26/1959cb2285984144922a5b97db22753d-92734.jpg" alt="[Phóng sự ảnh]: Hội thảo khoa học quốc gia hiến kế mô hình phát triển mới cho Việt Nam - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="93048">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/27/00b898349af74116a91b7ebd1d111791-93048.jpg" alt="[Phóng sự ảnh]: Hội thảo khoa học quốc gia hiến kế mô hình phát triển mới cho Việt Nam - Ảnh 3">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="93047">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/27/e353995761e74524a53398fb759c24b7-93047.jpg" alt="[Phóng sự ảnh]: Hội thảo khoa học quốc gia hiến kế mô hình phát triển mới cho Việt Nam - Ảnh 4">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-Song Hoàng - Việt Dũng</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR </title><description>Trong bối cảnh #225;p lực nhu cầu điện tăng cao c#249;ng mục ti#234;u dịch chuyển năng lượng xanh, điện hạt nh#226;n, đặc biệt l#224; c#244;ng nghệ l#242; phản ứng modul nhỏ (SMR), đang trở th#224;nh xu thế tất yếu tr#234;n to#224;n cầu. </description><pubDate>Mon, 25 May 2026 23:00:00 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/phat-trien-dien-hat-nhan-va-cong-nghe-smr.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/phat-trien-dien-hat-nhan-va-cong-nghe-smr.htm</guid><atom:link href="/phat-trien-dien-hat-nhan-va-cong-nghe-smr.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/222781f55dff48feb5bae16af372c95f-92547.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Trong bối cảnh áp lực nhu cầu điện tăng cao cùng mục tiêu dịch chuyển năng lượng xanh, điện hạt nhân, đặc biệt là công nghệ lò phản ứng modul nhỏ (SMR), đang trở thành xu thế tất yếu trên toàn cầu. </h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="92533">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/00a2793283cb421c8f71daa0d60e1704-92533.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92534">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/6d408194d4674645a98403d3cba74cbb-92534.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92535">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/6fc07996adb44d518896899fccc50d65-92535.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Phát triển điện hạt nhân là một nhiệm vụ lớn trước mắt mà Đảng
và Nhà nước thực sự rất quan tâm và thúc đẩy mạnh mẽ. </p>
<p class="text-justify">Bản thân những người như chúng tôi - cán bộ chuyên gia của
Viện - cũng thấy rằng nếu chúng ta thực sự làm được dự án điện hạt nhân và
thành công, chúng ta có được năng lực về hạt nhân thì đó là điều vô cùng quý
giá đối với đất nước. Không những đảm bảo cung cấp năng lượng, an ninh năng lượng,
mà còn thúc đẩy tất cả các lĩnh vực khác phát triển, đào tạo nguồn nhân lực,
đưa đất nước lên một tầm cao phát triển mới. Thực tế đã chứng minh các nước có
điện hạt nhân đều là những nước phát triển tốt.</p>
<p class="text-justify">Công nghệ lò SMR là xu thế tất yếu. Nghị quyết số 70-NQ/TW của
Bộ Chính trị về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến
năm 2045, đã nhấn mạnh xây dựng Chương trình phát triển điện hạt nhân theo các
quy mô linh hoạt và các nhà máy điện hạt nhân lắp ráp module nhỏ; đẩy mạnh đầu
tư cho nghiên cứu, phát triển công nghệ năng lượng nguyên tử, từng bước làm chủ
công nghệ điện hạt nhân, bao gồm công nghệ lò phản ứng hạt nhân; lựa chọn công
nghệ tiên tiến, phù hợp với điều kiện của Việt Nam, bảo đảm an ninh, an toàn
tuyệt đối và tối ưu hóa hiệu quả tổng thể về kinh tế - xã hội. Kết luận số 227
ngày 22/12/2025 của Bộ Chính trị cũng nhấn mạnh yêu cầu “nghiên cứu, phát triển
công nghệ lò phản ứng modul nhỏ và lò phản ứng tiên tiến thế hệ IV”.</p>
<p class="text-justify">Theo các dự báo quốc tế, công suất điện hạt nhân toàn cầu đến
năm 2050 có thể tăng gấp đôi so với hiện nay, cùng với sự xuất hiện của các
công nghệ thế hệ mới đáp ứng tiêu chuẩn an toàn cao hơn sau sự cố Fukushima. Hội
thảo quốc tế hôm nay đã cho thấy vấn đề nhân lực, con người, năng lực là quan
trọng nhất; đồng thời, các đối tác từ Nga, Canada và các nước khác cũng sẵn
sàng đồng hành cùng Việt Nam trên con đường phát triển điện hạt nhân. Đây là cơ
hội rất quý. Chúng ta phải tận dụng bằng cách xây dựng chương trình, kế hoạch
và triển khai công việc một cách nghiêm túc và bài bản như các nước khác đã
làm.</p>
<p class="text-justify">An toàn là khâu quan trọng nhất, khó nhất nhưng là khâu bắt
buộc phải đảm bảo, vì nếu xảy ra sự cố thì sẽ mất hết tất cả. Chúng tôi, những
người thực sự làm việc trong môi trường hạt nhân, hiểu rằng an toàn là số 1,
không có ngoại lệ”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92536">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/de8b389dfa3b437baa9cab9692a01ceb-92536.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92537" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/0b1783a7f09e48b9a95f09b649fc283e-92537.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Chúng ta đang đứng trước một bước ngoặt lịch sử của ngành
năng lượng toàn cầu. Theo báo cáo từ Cơ quan Năng lượng quốc tế (IEA), thế giới
không chỉ đối mặt với cuộc khủng hoảng khí hậu mà còn chịu áp lực nặng nề từ sự
đứt gãy chuỗi cung ứng năng lượng truyền thống. Trong bối cảnh đó, cam kết Net
Zero vào năm 2050 đã chính thức trở thành một “luật chơi mới” chi phối toàn bộ
dòng chảy thương mại và đầu tư quốc tế. </p>
<p class="text-justify">Tại Việt Nam, bài toán an ninh năng lượng đã trở thành vấn đề
sống còn. Chúng ta không chỉ cần năng lượng để tăng trưởng, mà cần một nguồn
năng lượng thực sự sạch, ổn định và tự chủ. Vì vậy, việc nghiên cứu các mô hình
triển khai Lò phản ứng modul nhỏ (SMR) hiện nay đang gắn liền với tiến trình hiện
thực hóa các kịch bản năng lượng mới trong Quy hoạch điện VIII Điều chỉnh.</p>
<p class="text-justify">Trong lộ trình dài hạn của chiến lược chuyển dịch năng lượng,
giải pháp lò phản ứng modul nhỏ (SMR) đang được nghiên cứu và định hướng tiếp cận
như một phương án nguồn điện nền có tính linh hoạt cao. Không đơn thuần là
phiên bản thu nhỏ của các nhà máy điện hạt nhân truyền thống, SMR là một bước đột
phá mang tính cách mạng, được kỳ vọng sẽ giải quyết hài hòa mục tiêu kép của hệ
thống điện tương lai. Một mặt, công nghệ này mở ra cơ hội đáp ứng nhu cầu tiêu
thụ điện năng khổng lồ, đòi hỏi tính liên tục và độ ổn định ở mức tuyệt đối của
các trung tâm dữ liệu AI lẫn chuỗi sản xuất bán dẫn mũi nhọn. Mặt khác, với khả
năng điều tiết công suất nhanh chóng, đây được xem là giải pháp kỹ thuật tiềm
năng giúp chủ động điều hòa tính biến thiên và bất định đặc trưng của các nguồn
năng lượng tái tạo.</p>
<p class="text-justify">Đáng chú ý, nhờ thiết kế tích hợp, SMR sở hữu biên độ an
toàn nội tại rất cao, giúp giảm thiểu tối đa nguy cơ sự cố và tối ưu hóa niềm
tin chiến lược cho cộng đồng. Về mặt tài chính, mô hình này mang lại lợi thế vượt
trội nhờ tổng mức đầu tư ban đầu thấp và tiến độ xây dựng nhanh chóng. Quy
trình modul hóa cho phép chế tạo hàng loạt tại nhà máy và lắp ráp trực tiếp tại
hiện trường, giúp giảm áp lực vốn cho chủ đầu tư. Lợi thế này phối hợp cùng khả
năng triển khai đa dạng giúp SMR dễ dàng thích ứng với nhiều không gian địa lý,
từ các khu công nghiệp tập trung cho đến các vùng sâu, vùng xa biệt lập.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, con đường phát triển điện hạt nhân quy mô nhỏ
cũng đối mặt với không ít thách thức về giá thành điện năng, tính kiểm chứng
thương mại cũng như yêu cầu về một khung pháp lý hoàn thiện. Điều này đòi hỏi sự
phối hợp chặt chẽ giữa các nhà hoạch định chính sách, các chuyên gia khoa học
và các doanh nghiệp thực thi. </p>
<p class="text-justify">Trong kỷ nguyên AI và chuyển dịch công nghệ số, việc phát
triển năng lượng hạt nhân thế hệ mới đã trở thành đòi hỏi cấp bách, không thể
trì hoãn. Để không bỏ lỡ nhịp độ phát triển toàn cầu, chúng ta cần đi nhanh hơn
thông qua việc thiết lập các mối quan hệ đối tác chiến lược quốc tế. Đây chính
là “chìa khóa” để tiếp cận công nghệ lõi, học hỏi mô hình quản trị an toàn và
chuẩn bị nguồn nhân lực. Khởi động các chương trình hợp tác ngay từ lúc này sẽ
mở ra cơ hội lớn để Việt Nam rút ngắn khoảng cách phát triển và khẳng định vị
thế trong bản đồ năng lượng nguyên tử khu vực”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92538">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/66316b18ea994cea9fdeed3a7e5975a8-92538.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92539" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/5f29c23fdb364d8f86d18023b1df4ffd-92539.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Hiện nay, áp lực tăng trưởng nhu cầu điện rất cao, bên cạnh
đó là các thách thức về huy động vốn, rủi ro về an ninh phi truyền thống như
các sự kiện thời tiết cực đoan ảnh hưởng đến nguồn cung thủy điện…</p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, điều chỉnh Quy hoạch điện VIII tại Quyết định
số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 đã xác định lộ trình phát triển điện hạt nhân với
công suất 4.000–6.400 MW, dự kiến vận hành trong giai đoạn 2030–2035 và có thể
được đẩy sớm hơn nếu điều kiện thuận lợi; chưa có những quy định rõ về công nghệ
SMR (lò phản ứng modul nhỏ). Tuy nhiên, chúng tôi khẳng định lại rằng với yêu cầu
nguồn điện trong bối cảnh phụ tải tăng trưởng nhanh và yêu cầu tích hợp phần
năng lượng tái tạo mặt trời và gió rất lớn trong những năm sau, những yếu tố về
nguồn điện có quy mô modul linh hoạt, khả năng vị trí linh hoạt, vai trò hỗ trợ
năng lượng tái tạo là rất quan trọng. </p>
<p class="text-justify">Theo nghiên cứu của chúng tôi, khả năng vận hành linh hoạt của
SMR tốt hơn so với các lò phản ứng hạt nhân quy mô lớn. Đó là yếu tố quan trọng
để tích hợp năng lượng tái tạo biến đổi, khi mà công suất năng lượng tái tạo có
thể tăng giảm rất nhanh, thì những loại nguồn vận hành linh hoạt hơn rất tốt
cho hệ thống điện. Điều  quan trọng là
nguồn SMR là nguồn điện không có phát thải CO2, đóng góp cho mục tiêu khí hậu.</p>
<p class="text-justify">Trong lộ trình của điều chỉnh Quy hoạch điện VIII cũng như
Quy hoạch năng lượng quốc gia, chưa có mốc cụ thể, con số cụ thể cho công nghệ
SMR. Nghị quyết số 70-NQ/TW của Bộ Chính trị đã nêu rõ cần khẩn trương triển
khai các dự án điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và 2, vận hành trong giai đoạn
2030–2035, đồng thời xây dựng chương trình phát triển điện hạt nhân theo các
quy mô linh hoạt và các nhà máy điện hạt nhân lắp ráp modul nhỏ. Vì thế, chúng
ta cần phải thực hiện ngay để có thể cụ thể hóa những mốc chuyển dịch năng lượng
gắn với phát triển công nghệ SMR. </p>
<p class="text-justify">Chúng tôi hy vọng trong thời gian tới sẽ có chương trình rõ
nét hơn, để khi chúng ta xây dựng Quy hoạch điện IX vào khoảng năm 2029-2030,
Quy hoạch điện IX có thể đưa ra những mốc cụ thể hơn đối với công nghệ SMR, giống
như chúng ta đã làm với điện hạt nhân quy mô lớn”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92540">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/e06b80b54a0143f8a2d36ef4df5ceed4-92540.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92541" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/32a2268f0730441bb0c3544138aee5b0-92541.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Khi dịch chuyển năng lượng trở thành bài toán sống còn,
công nghệ lò phản ứng modul nhỏ (SMR) chính là câu trả lời thay thế tối ưu cho
các nguồn năng lượng truyền thống nhờ sở hữu những giá trị cốt lõi vượt trội. </p>
<p class="text-justify">Trước hết, lợi thế lớn nhất của SMR đó là độ tin cậy tuyệt đối.
Khác biệt hoàn toàn với điện gió hay điện mặt trời vốn bị động và phụ thuộc chặt
chẽ vào thời tiết, SMR đảm bảo nguồn cung cấp điện liên tục, không ngắt quãng
và vận hành ổn định bất kể ngày đêm hay các điều kiện khí hậu bão táp cực đoan.
Đặc tính này đặc biệt tương thích và phù hợp với điều kiện khí hậu của Việt
Nam. </p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, công nghệ này còn  thân thiện với môi trường khi có mức phát thải
gần như bằng không và sử dụng quỹ đất cực kỳ hiệu quả. Chính ưu điểm về diện
tích chiếm dụng nhỏ này đã giúp tối ưu hóa công tác quy hoạch đô thị, thu hẹp
đáng kể các vùng lập kế hoạch an toàn xung quanh nhà máy, đồng thời mang lại khả
năng tương thích hạ tầng linh hoạt và kịch bản ứng dụng vô cùng đa dạng.</p>
<p class="text-justify">SMR là sự lựa chọn chiến lược nhờ giải quyết được hàng loạt
thách thức lớn về mặt hạ tầng và nhân lực cho các quốc gia đang phát triển.
Công nghệ này giúp tối ưu hóa kinh tế và vận hành nhờ yêu cầu vốn đầu tư ban đầu
thấp và thời gian xây dựng ngắn hơn rất nhiều so với các lò phản ứng truyền thống.
Với tính linh hoạt cao và khả năng điều tiết công suất nhanh, SMR có thể vận
hành hiệu quả ngay cả trong các hệ thống điện nhỏ biệt lập, hoặc phối hợp nhịp
nhàng để hỗ trợ các nguồn năng lượng tái tạo và các nhà máy hạt nhân quy mô lớn.</p>
<p class="text-justify">Các dự án SMR mang lại lợi ích to lớn về kinh tế - xã hội dựa
trên các mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc. SMR mở ra khả năng tiếp
cận năng lượng vượt trội khi một đơn vị điện hạt nhân nổi có thể cung cấp nguồn
điện phát thải thấp cho khoảng 100.000 người, duy trì dòng điện không ngắt
quãng với tuổi thọ vận hành ổn định trên 60 năm. Khả năng quản trị rủi ro của
công nghệ này cũng giúp các quốc gia dự báo chính xác chi phí phát điện dài hạn,
tạo nền tảng vững chắc để đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia. Việc đẩy mạnh điện
hạt nhân SMR - một trong những nguồn năng lượng sạch nhất hành tinh - sẽ là động
lực mạnh mẽ thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và phát triển (RD), nâng cao
năng lực nội địa và hỗ trợ hiệu quả cho cuộc chiến ứng phó với biến đổi khí hậu
toàn cầu”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92542">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/f768899810af436288b97b95bd9cc447-92542.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 10">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92543" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/af098403b9da428783c19a1c0bd73a0b-92543.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 11">
</figure>
<p class="text-justify">“Hiện nay, Canada là nhà sản xuất uranium lớn thứ hai thế giới,
trong đó 100% hoạt động khai thác uranium thương mại của nước này đều tập trung
tại Saskatchewan. Sự mở rộng của ngành công nghiệp hạt nhân tại Saskatchewan
nói riêng và trên toàn thế giới nói chung được kỳ vọng sẽ tạo ra cơ hội lớn cho
doanh nghiệp, người lao động và các nhà cung ứng. </p>
<p class="text-justify">Các phân tích sơ bộ cho thấy, riêng chương trình hạt nhân của
tỉnh bang Saskatchewan có thể cần từ 2.500 đến 3.500 lao động kỹ thuật và
chuyên môn được đào tạo bài bản. Trong đó, bên cạnh các vị trí kỹ sư, quản lý dự
án và vận hành hạt nhân cũng sẽ có nhu cầu rất cao, nhóm lao động kỹ thuật lành
nghề phụ trợ cũng được dự báo sẽ chiếm tỷ trọng lớn.</p>
<p class="text-justify">Điện hạt nhân cũng đồng thời mở ra cơ hội lớn cho các nhà
cung ứng công nghiệp của Saskatchewan, dựa trên nền tảng sẵn có trong các lĩnh
vực dầu khí, khai khoáng và chế tạo. Chính quyền Saskatchewan hiện đang hỗ trợ
nhiều dự án nhằm phát triển chuỗi cung ứng hạt nhân ở cấp địa phương, Canada, Bắc
Mỹ và toàn cầu, qua đó giúp doanh nghiệp trong tỉnh tham gia sâu hơn vào chuỗi
giá trị này.</p>
<p class="text-justify">Saskatchewan cũng chủ động hợp tác với nhiều chính quyền và
tổ chức để thúc đẩy phát triển năng lượng hạt nhân. Năm 2019, Saskatchewan cùng
Ontario và New Brunswick ký biên bản ghi nhớ nhằm thúc đẩy phát triển các lò phản
ứng modul nhỏ (SMR) tại Canada. Đến tháng 4/2021, Alberta tham gia sáng kiến
này. Năm 2022, bốn địa phương đã thống nhất một kế hoạch chiến lược chung, vạch
ra lộ trình phát triển SMR.</p>
<p class="text-justify">Kế hoạch này xác định SMR có thể cung cấp nguồn điện an
toàn, ổn định và không phát thải để phục vụ nền kinh tế và dân số đang tăng trưởng,
đồng thời mở ra cơ hội đưa tri thức, công nghệ và chuyên môn hạt nhân của
Canada ra thị trường toàn cầu”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92544">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/228b2f199a2047db96b22fa56b222eae-92544.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 12">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92545" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/3c2c36af3df046e880e4e9b0beb634a6-92545.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 13">
</figure>
<p class="text-justify">“Năm 2024 đánh dấu thời điểm thế giới thực sự trở lại với
năng lượng hạt nhân. Tại COP28, hơn 20 quốc gia đã cùng cam kết theo đuổi mục
tiêu mang tính bước ngoặt: tăng gấp ba công suất điện hạt nhân toàn cầu vào năm
2050.</p>
<p class="text-justify">5 năm tới sẽ là giai đoạn tăng tốc của ngành công nghiệp điện
hạt nhân. Chúng ta sẽ bước ra khỏi lý thuyết để tiến đến triển khai nhanh chóng
các dự án. Khử carbon và an ninh năng lượng giờ đây không còn đơn thuần là mục
tiêu chính trị, mà đã trở thành vấn đề sống còn của nhiều quốc gia. Trong bối cảnh
đó, các chính phủ trên thế giới không chỉ thúc đẩy đầu tư vào lò phản ứng modul
nhỏ (SMR), mà còn đồng loạt xây dựng các cơ chế tài chính và quy trình cấp phép
mới nhằm rút ngắn thời gian triển khai dự án.</p>
<p class="text-justify">Đến năm 2030, thế giới có thể sẽ có từ 20-30 dự án SMR đang
xây dựng hoặc ở giai đoạn cấp phép, với tổng quy mô thị trường từ 100-150 tỷ
USD. Xa hơn đến năm 2050, thế giới không chỉ chứng kiến sự mở rộng của một thị
trường năng lượng mới, mà còn bước vào một bước ngoặt lớn của hệ thống năng lượng
toàn cầu, nơi những tham vọng hiện nay sẽ trở thành hạ tầng của tương lai.</p>
<p class="text-justify">Theo tôi, có bốn xu hướng lớn đang thúc đẩy làn sóng này.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> yêu cầu
bảo đảm an ninh năng lượng trong bối cảnh địa chính trị ngày càng bất ổn. Những
biến động gần đây cho thấy độc lập năng lượng đã trở thành yêu cầu không thể
trì hoãn đối với nhiều quốc gia. SMR là lời giải phù hợp vì công nghệ này có
thiết kế linh hoạt, cho phép các quốc gia chủ động hơn với hệ thống điện của
mình và giảm phụ thuộc vào thị trường khí đốt quốc tế.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai, </i>nhu cầu
khử carbon, đồng thời đảm bảo vận hành ổn định dây chuyền sản xuất  trong các ngành công nghiệp nặng.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> sự phát
triển bùng nổ của AI, lĩnh vực đang tiêu thụ lượng điện khổng lồ. Tốc độ mở rộng
quá nhanh của các trung tâm dữ liệu đang tạo áp lực ngày càng lớn lên hệ thống
điện toàn cầu. Các tập đoàn công nghệ hiện không chỉ cần nguồn điện sạch mà còn
đòi hỏi nguồn điện ổn định 24/7 để duy trì hoạt động liên tục của hạ tầng tính
toán. Trong bối cảnh đó, SMR được xem là giải pháp khả thi hàng đầu để đáp ứng
nhu cầu này. Chính vì vậy, các lò phản ứng SMR ngày càng được ưu tiên triển
khai gần các trung tâm dữ liệu quy mô lớn nhằm bảo đảm nguồn điện ổn định, liên
tục.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ tư,</i> sự trưởng
thành của chuỗi cung ứng toàn cầu. Đến khoảng năm 2040, ngành công nghiệp SMR sẽ
chuyển mạnh sang mô hình tiêu chuẩn hóa. Khi công nghệ sản xuất modul hoàn thiện
hơn và các quy trình cấp phép quốc tế được đồng bộ, chi phí xây dựng sẽ giảm xuống
đáng kể, trong khi tốc độ triển khai sẽ được đẩy nhanh trên quy mô toàn cầu”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="92546">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/25/8761c53f84c34414b4be9a545bdd5847-92546.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 14">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 21-2026 phát hành ngày /05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-2026.html</a></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="92123">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/23/d1b8250102084121b5c402c20f032e46-92123.png" alt="Phát triển điện hạt nhân và công nghệ SMR  - Ảnh 15">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực</title><description>Nhằm định h#236;nh tầm nh#236;n v#224; giải ph#225;p cho giai đoạn ph#225;t triển đầy kỳ vọng n#224;y, tại Diễn đ#224;n “Nhịp cầu ph#225;t triển Việt Nam 2026: Kinh tế c#243; vốn đầu tư nước ngo#224;i v#224; kinh tế trong nước hợp lực tạo sức bật tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới”, c#225;c nh#224; quản l#253;, chuy#234;n gia v#224; đại diện c#225;c hiệp hội doanh nghiệp quốc tế cho rằng để khơi th#244;ng d#242;ng vốn FDI thế hệ mới, Việt Nam cần giải quyết rốt r#225;o c#225;c “điểm nghẽn” về thể chế vốn, hạ tầng năng lượng...</description><pubDate>Thu, 21 May 2026 07:38:56 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/fdi-the-he-moi-dot-pha-cong-nghe-gan-ket-noi-luc.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/fdi-the-he-moi-dot-pha-cong-nghe-gan-ket-noi-luc.htm</guid><atom:link href="/fdi-the-he-moi-dot-pha-cong-nghe-gan-ket-noi-luc.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/c3ba0ff3519b48d2855f71dabd253776-90651.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Nhằm định hình tầm nhìn và giải pháp cho giai đoạn phát triển đầy kỳ vọng này, tại Diễn đàn “Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2026: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế trong nước hợp lực tạo sức bật tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới”, các nhà quản lý, chuyên gia và đại diện các hiệp hội doanh nghiệp quốc tế cho rằng để khơi thông dòng vốn FDI thế hệ mới, Việt Nam cần giải quyết rốt ráo các “điểm nghẽn” về thể chế vốn, hạ tầng năng lượng...</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="90636">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/66e6bdae5d2149fd80e29251183b784e-90636.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90637">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/6117f9a7e9d347879775f4b9ab19717b-90637.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90638" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/cc786c5c40d9439a9dfc771dd7d0a4a1-90638.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Hàng năm, VCCI đều tiến hành điều tra về doanh nghiệp có vốn
đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước. Kết quả điều tra cho thấy tỷ lệ
doanh nghiệp FDI quy mô nhỏ ngày càng nhiều, tỷ lệ doanh nghiệp FDI quy mô nhỏ
(từ Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc...) tham gia vào Việt Nam ngày càng tăng. Điều
này có nghĩa là các tập đoàn lớn như Samsung hay Intel đang kéo theo “hệ sinh
thái” của riêng họ từ nước ngoài vào, vô hình trung thu hẹp cơ hội của doanh
nghiệp nội địa ngay trên sân nhà.  </p>
<p class="text-justify">Có nhiều rào cản đang cản trở doanh nghiệp Việt muốn trở
thành một đối tác chiến lược của các doanh nghiệp FDI, trong đó vốn là rào cản
hàng đầu. Doanh nghiệp Việt chủ yếu dựa vào vốn vay ngân hàng với lãi suất cao
và kỳ hạn ngắn. Trong khi đối thủ ngoại sẵn sàng đầu tư nhà xưởng trước để đấu
thầu, doanh nghiệp Việt thường đợi có hợp đồng mới đi thuê kho bãi, dẫn đến mất
lợi thế cạnh tranh. </p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, khung khổ pháp luật hiện nay chưa cho phép
doanh nghiệp thế chấp nhà xưởng, máy móc gắn liền với đất để vay vốn từ các tổ
chức tín dụng nước ngoài, khiến việc tiếp cận nguồn vốn giá rẻ quốc tế trở nên
bế tắc.  </p>
<p class="text-justify">Mô hình quản trị thiếu minh bạch và không thể kiểm toán là
rào cản khiến các tập đoàn lớn e dè. Bên cạnh đó, doanh nghiệp tư nhân đang ở
thế yếu trong việc thu hút nhân tài so với khối ngoại. Dường như doanh nghiệp
tư nhân trong nước tương đối bất lợi hơn trong việc thu hút các nhân lực chất
lượng cao về làm việc cho mình.</p>
<p class="text-justify">Để giải quyết vấn đề này, ngoài những việc mà doanh nghiệp
phải làm, cần có nhiều giải pháp hỗ trợ từ Nhà nước. Chẳng hạn như cần có một
chương trình phát triển nhà cung ứng chiến lược (như Thái Lan, Malaysia đã có
chương trình riêng) để thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam vươn lên.</p>
<p class="text-justify">Chúng ta cũng phải có những chiến lược để các nhà đầu tư nước
ngoài mở cửa hơn. Nghị quyết của Bộ Chính trị sắp tới về FDI, tôi tin rằng có một
loạt nhóm chính sách để các nhà đầu tư FDI, các tập đoàn lớn có động lực hơn để
tăng vai trò của các doanh nghiệp từ Việt Nam lên.</p>
<p class="text-justify">Theo tôi, chúng ta phải khơi thông nguồn vốn. Nếu vốn chỉ dựa
vào thế chấp đất đai như hiện nay thì rất khó, mà thế chấp đất hiện nay cũng
không dễ. Ví dụ như một nhà cung cấp muốn vay ngân hàng nước ngoài, thì khung
khổ pháp luật về đất đai của Việt Nam hiện nay chưa cho phép doanh nghiệp có thể
thế chấp nhà xưởng, máy móc, đất đai để vay vốn của các tổ chức tín dụng nước
ngoài. Chúng ta chưa mở cửa lĩnh vực này nên rất khó khăn. Do đó, cần thay đổi
cơ chế vay vốn cho doanh nghiệp, không chỉ dựa vào thế chấp đất đai”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90639">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/6c972bde4ff647e0a4c9a14438f45abc-90639.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90640" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/353a64a2a0f94322b7696682e2f1ee59-90640.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Sau 40 năm dòng vốn nước ngoài đổ vào Việt Nam, đây là thời
điểm không thể tiếp tục cách thức và phương thức thu hút FDI theo tư duy cũ. Nếu
ở giai đoạn trước, ưu tiên lớn nhất là thu hút càng nhiều vốn càng tốt để phục
vụ phát triển đất nước, thì hiện nay mục tiêu đã thay đổi. Điều Việt Nam cần
không còn đơn thuần là dòng tiền, mà là tri thức, công nghệ, sự thay đổi trong
phương thức quản trị cũng như khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn toàn cầu để nâng
vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị quốc tế. Tất cả những vấn đề đó hiện đều
đang được đặt ra trong quá trình xây dựng đề án mới.</p>
<p class="text-justify">Theo định hướng thời gian tới, việc thu hút FDI sẽ chuyển mạnh
từ đại trà sang lựa chọn, ưu tiên các dự án công nghệ cao, công nghệ chiến lược
và có khả năng tạo tác động lan tỏa. Cách tiếp cận cũng không còn phụ thuộc chủ
yếu vào ưu đãi thuế quan như trước. Trong bối cảnh thuế tối thiểu toàn cầu được
triển khai, cạnh tranh bằng ưu đãi thuế sẽ không còn là lợi thế bền vững. Điều
được kỳ vọng nhiều hơn là sự đồng hành của các doanh nghiệp FDI trong chuyển
giao công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và hỗ trợ doanh nghiệp trong nước nâng
cao năng lực.</p>
<p class="text-justify">Câu chuyện Intel đồng hành cùng doanh nghiệp Việt Nam là một
ví dụ rất điển hình, bởi phải mất gần 20 năm mới hình thành được một kết nối thực
sự có chiều sâu. Điều đó cho thấy nếu không thay đổi tư duy thu hút đầu tư thì
sẽ tiếp tục mất rất nhiều thời gian để tạo ra được các mối liên kết thực chất
giữa khu vực FDI và doanh nghiệp nội địa.</p>
<p class="text-justify">Hơn 20 năm làm công tác quản lý trong lĩnh vực này, tôi nhận
thấy câu chuyện liên kết giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước luôn là một
bài toán khó và cũng là điều khiến cơ quan quản lý đau đáu suốt nhiều năm qua.
Tuy nhiên, liên kết không thể chỉ đến từ một phía.</p>
<p class="text-justify">Các doanh nghiệp FDI cần cởi mở hơn trong việc chia sẻ tiêu
chuẩn kỹ thuật, quản trị, tạo cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam tham gia sâu hơn
vào chuỗi cung ứng. Điều đáng mừng là doanh nghiệp nội địa hiện nay đã khác trước
rất nhiều, đã trưởng thành hơn, chủ động hơn và sẵn sàng đáp ứng các yêu cầu
cao hơn của thị trường. ở chiều ngược lại, doanh nghiệp trong nước cũng phải tiếp
tục nâng cấp năng lực, cải thiện quản trị và chủ động thích ứng với các tiêu
chuẩn toàn cầu.</p>
<p class="text-justify">Mới đây, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW về
phát triển kinh tế tư nhân. Chính phủ cùng các cơ quan quản lý hiện cũng đang rất
nỗ lực để nâng cấp năng lực cho doanh nghiệp trong nước. Trước đây, nguyên Phó
Thủ tướng Nguyễn Chí Dũng từng ví doanh nghiệp FDI ở trình độ “đại học”, trong
khi nhiều doanh nghiệp nội địa mới ở trình độ “lớp 1, lớp 2”. Vấn đề đặt ra hiện
nay là làm thế nào để thu hẹp khoảng cách đó.</p>
<p class="text-justify">Muốn tham gia vào các lĩnh vực công nghệ chiến lược và đi
sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu thì doanh nghiệp Việt Nam cần có cơ hội được
đi cùng. Thành công của khu vực FDI cũng phải gắn với sự phát triển của doanh
nghiệp nội địa và của nền kinh tế Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh chính sách thúc đẩy liên kết, định hướng thu hút
FDI trong thời gian tới cũng sẽ được phân tầng theo từng địa bàn phát triển.
Các vùng động lực, khu vực lõi hay những lĩnh vực chiến lược sẽ ưu tiên các dự
án công nghệ cao, công nghệ chiến lược. Trong khi đó, các địa phương có điều kiện
hạ tầng và kỹ thuật hạn chế hơn sẽ hướng tới thu hút những dự án phù hợp hơn về
trình độ công nghệ nhưng vẫn tạo được sức lan tỏa cho khu vực lân cận.</p>
<p class="text-justify">Song song với đó là việc tiếp tục đầu tư mạnh vào hạ tầng
giao thông, hạ tầng số, hạ tầng dữ liệu và đặc biệt là tính ổn định của hạ tầng
năng lượng. Đây đều là những điều kiện rất quan trọng đối với các dự án bán dẫn
và công nghệ cao, vì vậy cần được chuẩn bị đồng bộ để sẵn sàng đón dòng vốn FDI
thế hệ mới.</p>
<p class="text-justify">Điều quan trọng nhất trong giai đoạn tới là tinh thần hợp lực.
Từ trước đến nay, khu vực FDI luôn được xem là một cấu phần của nền kinh tế Việt
Nam, vì vậy không chỉ hưởng lợi từ môi trường đầu tư mà cũng cần đồng hành cùng
quá trình phát triển của đất nước. Chính sách thu hút đầu tư hiện cũng đang
chuyển từ tư duy ưu đãi sang tư duy hỗ trợ và đồng hành cùng doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Kỳ vọng lớn nhất là các tập đoàn nước ngoài không chỉ xem Việt
Nam là địa điểm sản xuất hay đầu tư, mà là quê hương thứ hai, nơi cùng phát triển
lâu dài, cùng chia sẻ trách nhiệm và đóng góp cho tăng trưởng của nền kinh tế”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90641">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/4aabbdd5207b42a88c79c5d473105148-90641.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90642" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/4fb27a5e2b8944ca9c0b69ae8f3ba19f-90642.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Việt Nam hiện sở hữu sự kết hợp hiếm có giữa ổn định chính
trị, nền tảng kinh tế vững chắc và tiềm năng tăng trưởng dài hạn, cùng một lĩnh
vực sản xuất mang tính cạnh tranh cao. Việc tham gia mạnh mẽ vào các Hiệp định
thương mại, sự cải thiện không ngừng về cơ sở hạ tầng, vị trí địa lý chiến lược
và khả năng kết nối sâu rộng với các chuỗi cung ứng lớn đã tạo nên sức hấp dẫn
đặc biệt cho quốc gia. </p>
<p class="text-justify">Với lực lượng lao động trẻ, năng động và ngày càng có năng lực,
các doanh nghiệp Singapore đang dần nhìn nhận Việt Nam không chỉ là một cứ điểm
sản xuất truyền thống mà còn là trung tâm tương lai của đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số, tăng trưởng xanh và vận hành khu vực.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, bối cảnh cạnh tranh toàn cầu trong thu hút FDI đã
thay đổi đáng kể, khi các nhà đầu tư không còn chỉ tập trung vào chi phí lao động
hay ưu đãi thuế như trước đây. Ngày nay, sự quan tâm được chuyển dịch sang khả
năng hỗ trợ chống chịu, năng lực đổi mới sáng tạo, phát triển bền vững và sự
tích hợp hệ sinh thái của một nền kinh tế. Ở khía cạnh này, Việt Nam dù có rất
nhiều lợi thế nhưng vẫn còn những dư địa cần cải thiện, đặc biệt là tính dự báo
của chính sách, tính minh bạch và hiệu quả thực thi. Để tránh sự thiếu rõ ràng
cho nhà đầu tư, các chính sách cần được triển khai nhất quán giữa các địa
phương, đi kèm với những quy định ổn định và thủ tục cấp phép hiệu quả.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, lĩnh vực dịch vụ cần được phát triển linh hoạt
hơn để cạnh tranh ở quy mô toàn cầu, giúp Việt Nam khẳng định giá trị riêng biệt
so với các quốc gia khác. Cung với đó, cơ sở hạ tầng vẫn là mối quan tâm chung,
đòi hỏi sự đồng bộ từ kết nối giao thông, đường sắt tốc độ cao, mạng lưới
logistics đến quy hoạch tổng thể. Trong đó, việc phát triển các khu công nghiệp
cần gắn liền với quy hoạch đô thị bền vững, bảo đảm các cộng đồng dân cư xung
quanh được xây dựng bài bản và đáp ứng nhu cầu sống của người dân. Phát triển bền
vững lúc này không chỉ dừng lại ở việc đáp ứng các mục tiêu ESG mà phải là sự đồng
bộ hóa giữa quy hoạch giao thông, năng lượng và các mục tiêu phát triển dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Yếu tố then chốt để Việt Nam tiến xa hơn trong chuỗi giá trị
chính là nguồn nhân lực và kỹ năng. Trọng tâm cần vượt ra ngoài sản xuất đơn
thuần để hướng tới năng lực quản lý các quy trình phức tạp và các kỹ năng thực
tiễn mang tính ứng dụng cao thông qua việc tăng cường đào tạo nghề. Đồng thời,
việc xây dựng các mô hình hợp tác cởi mở giữa các tập đoàn đa quốc gia và cộng
đồng doanh nghiệp nhỏ và vừa trong nước là hết sức quan trọng để tăng cường
liên kết hệ sinh thái. Cùng với đó, các chính sách và khuôn khổ pháp lý về tài
chính xanh cần sớm được đồng bộ với xu hướng toàn cầu về tuân thủ carbon.</p>
<p class="text-justify">Từ góc nhìn của các nhà đầu tư tại SingCham, Singapore hiện
vẫn là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam với các khoản đầu tư tập
trung chủ yếu vào bất động sản, năng lượng và dịch vụ, trong khi tỷ trọng sản
xuất ít hơn. </p>
<p class="text-justify">Chúng tôi có tầm nhìn dài hạn. Sự đồng thuận ở cấp lãnh đạo
cao nhất cùng cam kết cải tiến liên tục và đổi mới sáng tạo là yếu tố quan trọng,
đặc biệt trong phát triển nguồn nhân lực.</p>
<p class="text-justify">Một điểm cuối cùng, tôi tin rằng nguồn nhân lực sẽ gắn liền
với hạnh phúc. Một cộng đồng hạnh phúc sẽ tạo ra một lực lượng lao động hạnh
phúc. Tôi hy vọng có thể có một cơ quan chuyên trách của chính phủ, tương tự
như Hội đồng Phát triển Nhà ở (Housing and Development Board - HDB) của
Singapore, để quản lý nhà ở xã hội. Điều này sẽ giúp cân bằng nhu cầu nhà ở của
quốc gia với yêu cầu của nhà đầu tư, đồng thời tạo cơ chế phối hợp liên ngành
nhằm bảo đảm các cộng đồng dân cư có thể sống tốt, bền vững và phù hợp với nhu
cầu của lực lượng lao động”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90643">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/32b9448b04e54ce2bccecfa8482bdbb9-90643.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90644" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/48010caef0004d22970700f8f75b4858-90644.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Từ góc nhìn của Vương quốc Anh, đây là một thời điểm tuyệt
vời và cũng là một cơ hội rất lớn. Tham vọng của Việt Nam hiện đang tập trung
rõ ràng vào các dịch vụ giá trị cao, đổi mới sáng tạo và sáng tạo giá trị mới,
những lĩnh vực có sự tương đồng chặt chẽ với thế mạnh và kinh nghiệm của Vương
quốc Anh.</p>
<p class="text-justify">Nếu nhìn vào trung tâm tài chính quốc tế (IFC), một yếu tố
then chốt là cần bảo đảm nền tảng đủ vững chắc cho các lĩnh vực phát triển có
giá trị cao này. IFC cùng các sáng kiến chiến lược khác được xây dựng để phục vụ
nhiều thế hệ, do đó các cấu trúc thể chế, quy định và khuôn khổ hỗ trợ cần được
thiết kế không chỉ cho hiện tại mà còn cho tương lai.</p>
<p class="text-justify">Vương quốc Anh có nhiều kinh nghiệm có thể chia sẻ trong
lĩnh vực này. Các doanh nghiệp Anh, cùng với Chính phủ Anh thông qua Đại sứ
quán và Lãnh sự quán, đã hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam trong việc xây
dựng khuôn khổ pháp lý. Đồng thời, chúng tôi ngày càng chú trọng đến phát triển
nhân lực, bởi để xây dựng một IFC bền vững, Việt Nam cần nhiều hơn là vốn đầu
tư hay sự hiện diện của các doanh nghiệp quốc tế.</p>
<p class="text-justify">Việt Nam cũng cần nuôi dưỡng và phát triển nguồn nhân lực của
chính mình. Người Việt Nam cần đóng vai trò trung tâm trong việc dẫn dắt các dự
án phát triển lớn trong tương lai. Theo quan điểm của tôi, đó là con đường phát
triển bền vững duy nhất, đồng thời cũng gắn chặt với các nguyên tắc ESG (môi
trường - quản trị - xã hội).</p>
<p class="text-justify">Thành công phụ thuộc vào sự hợp tác và cam kết chung. Dù là
người đến Việt Nam làm việc, sinh sống với tư cách chuyên gia nước ngoài hay là
người Việt Nam, tất cả chúng ta nên cùng chia sẻ một tham vọng, thành công của
Việt Nam cũng là thành công của các nhà đầu tư. Một Việt Nam thịnh vượng sẽ
đóng góp tích cực cho nền kinh tế toàn cầu và quan hệ quốc tế.</p>
<p class="text-justify">Nếu được đưa ra một đề xuất thực tế, tôi nghĩ Việt Nam không
nên lặp lại trải nghiệm nhập cảnh như tại sân bay Heathrow của Anh. Bất kỳ nhà
đầu tư nào đầu tư vào Việt Nam rồi cũng sẽ đến thăm đất nước này, nếu họ phải
chờ đợi một giờ hoặc lâu hơn tại khu vực nhập cảnh, đó không phải là sự chào
đón nồng nhiệt. Điều đó cũng không phản ánh đúng tiềm năng và cơ hội của Việt
Nam. Việt Nam nên có cách tiếp cận toàn diện hơn đối với trải nghiệm của nhà đầu
tư. Có thể chúng tôi không khuyến khích sao chép hàng chờ nhập cảnh của mình,
nhưng chúng tôi sẵn sàng hỗ trợ Việt Nam theo nhiều cách khác.</p>
<p class="text-justify">Để thu hút FDI, Việt Nam cần cạnh tranh ở quy mô toàn cầu.
Các nhà đầu tư ngày nay tìm kiếm quan hệ đối tác dài hạn hơn là những giao dịch
ngắn hạn. Sự ổn định là yếu tố thiết yếu, và từ khóa quan trọng ở đây là “đối
tác”.</p>
<p class="text-justify">Ở nhiều khía cạnh, quan hệ đối tác giống như một cuộc hôn
nhân, được xây dựng trên sự tin tưởng, thấu hiểu và cam kết chung. Đó là những
yếu tố nền tảng để đi đến thành công. Các cam kết dài hạn không thể hình thành
trong một sớm một chiều, nhưng nếu những nền tảng này được xây dựng vững chắc,
các kết quả tích cực sẽ đến sau đó. Tăng trưởng bền vững có thể không phải lúc
nào cũng nhanh, nhưng đó là con đường đúng đắn để tiến lên”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90646">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/ed7cbeebf03a42bab18bfce16dc42fec-90646.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 10">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90647" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/bd0b90c2130c42aaa41223edcd7763c1-90647.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 11">
</figure>
<p class="text-justify">“Việt Nam đã rất thành công trong việc thu hút FDI nhưng mức
độ liên kết giữa khối này với doanh nghiệp nội địa vẫn là một “điểm nghẽn” lớn.
Nút thắt quan trọng nhất không chỉ nằm ở công nghệ hay vốn, mà là ở năng lực
đáp ứng các chuẩn quốc tế một cách ổn định và bền vững của doanh nghiệp Việt.</p>
<p class="text-justify">Trong ngành điện tử, các tập đoàn toàn cầu không chỉ tìm đến
các nhà cung ứng có giá tốt, mà họ cần một đối tác có khả năng đảm bảo đồng thời
rất nhiều yếu tố như: chất lượng sản phẩm gần như là tuyệt đối; quản trị theo
chuẩn quốc tế, giao hàng chính xác, khả năng bảo mật dữ liệu và năng lực cải tiến
liên tục; khả năng mở rộng quy mô cần thiết. Đặc biệt hơn là “tính sẵn sàng” của
hai phía.</p>
<p class="text-justify">Một trong những rào cản vô hình nhưng mạnh mẽ nhất chính là
“rào cản niềm tin”. Các doanh nghiệp FDI có mong muốn chuyển giao công nghệ,
nhưng họ nghi ngại về năng lực thực tế của doanh nghiệp Việt trong việc đáp ứng
các chuẩn mực quốc tế một cách bền vững. 
</p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp Việt hiện nay có quy mô
nhỏ và vừa, nguồn lực cho nghiên cứu và phát triển (RD) hạn chế, trình độ
quản trị không đồng đều và mức độ đầu tư cho chuyển đổi số chưa đủ sâu. Một hiện
tượng phổ biến là doanh nghiệp làm rất tốt sản phẩm mẫu nhưng lại thất bại
trong việc duy trì chất lượng ổn định khi sản xuất hàng loạt hoặc không đảm bảo
được tiến độ giao hàng đồng bộ.  </p>
<p class="text-justify">Doanh nghiệp Việt đang thiếu tính liên kết trong hệ sinh
thái. Trong khi các tập đoàn FDI cần một chuỗi cung ứng hoàn chỉnh (từ linh kiện,
vật liệu đến logistics), thì doanh nghiệp Việt vẫn hoạt động rời rạc, manh mún.
Điều này buộc các tập đoàn FDI phải tự đi tìm từng nhà cung cấp riêng lẻ, gây cản
trở tính liên kết. Đồng thời, các doanh nghiệp nội cũng không biết đến nhau để
cùng chia sẻ một đơn hàng lớn.</p>
<p class="text-justify">Để trở thành một mắt xích giá trị cao, doanh nghiệp Việt phải
thay đổi đầu tiên chính là tư duy phát triển. Chúng ta không thể tiếp cận chuỗi
cung ứng toàn cầu bằng tư duy ngắn hạn hay cạnh tranh bằng giá rẻ. Các tập đoàn
quốc tế đánh giá rất cao sự minh bạch, tính kỷ luật, văn hóa tuân thủ và khả
năng đầu tư dài hạn của doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Chuyển từ tư duy “cạnh tranh bằng giá” sang tư duy “phát triển
bền vững” dựa trên 3 trụ cột. Đó là chuyển đổi xanh, đây là yêu cầu bắt buộc của
các thị trường lớn và FDI thế hệ mới; chuyển đổi số và quản trị dữ liệu, xây dựng
hệ thống kiểm soát chất lượng theo thời gian thực thay vì chỉ tập trung mua máy
móc hiện đại; đầu tư vào con người. Hiện nay năng suất lao động của Việt Nam hiện
còn thấp hơn nhiều so với khu vực,  chỉ bằng
50% của Thái Lan, 25% của Malaysia.  </p>
<p class="text-justify">Đặc biệt, doanh nghiệp Việt cần chủ động hơn trong việc tiếp
cận. Không để các FDI đi tìm mình, mà chúng ta phải chứng minh năng lực và phải
tìm đến họ. Đây như là một mối quan hệ win-win giữa hai bên mà cả hai bên đều
phải sẵn sàng tiến tới cùng với nhau, cùng phát triển, cùng tăng trưởng “đồng
thịnh vượng”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90648">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/85f4b481235e4828a86271bbf91f56f7-90648.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 12">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90649" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/9381b3bbd85e4e4abedf25c7556dcc09-90649.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 13">
</figure>
<p class="text-justify">“Tôi muốn bắt đầu bằng một điều rằng các doanh nghiệp FDI có
mặt ở đây đều từng là doanh nghiệp nội địa tại chính quốc gia của mình trước
khi phát triển đến quy mô như hiện nay. Theo nghĩa đó, tôi tin rằng giữa doanh
nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam tồn tại một tương lai chung.</p>
<p class="text-justify">Đối với SCG, Việt Nam đang ở một thời điểm rất đáng chú ý.
Đây không còn chỉ là câu chuyện về cơ hội, mà là sự chuyển dịch từ số lượng FDI
và số lượng nhà máy sang chất lượng đầu tư. Đó cũng chính là định hướng mà
chúng ta đã cùng thảo luận hôm nay.</p>
<p class="text-justify">SCG đã hiện diện tại Việt Nam trong 30 năm. Chúng tôi có xuất
phát điểm từ Thái Lan, nhưng hiện vận hành khoảng 50 nhà máy tại Việt Nam với tổng
vốn đầu tư khoảng 7 tỷ USD, sản xuất các sản phẩm thiết yếu như hóa chất cơ bản,
nhựa, bao bì, xi măng, vật liệu xây dựng và nhiều sản phẩm khác.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi cũng hợp tác với rất nhiều đối tác trong nước.
Trên toàn hệ thống, SCG hiện có hơn 5.000 nhà cung cấp và đối tác cấp một đồng
hành cùng hoạt động sản xuất kinh doanh. Chúng tôi đã chứng kiến nhiều nhà cung
cấp nội địa phát triển cùng SCG, trong đó có những doanh nghiệp đã trở thành đối
tác quy mô lớn. Chúng tôi hợp tác với các doanh nghiệp như Tổng công ty cổ phần
Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (PTSC) trong lĩnh vực kỹ thuật và FPT trong
lĩnh vực công nghệ, đều là những đối tác rất xuất sắc. Đồng thời, chúng tôi
cũng nhìn thấy nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa có năng lực và tiềm năng lớn.</p>
<p class="text-justify">Xét về nhà cung cấp và hệ sinh thái rộng lớn hơn, tất nhiên
chúng tôi có các đối thủ cạnh tranh trong ngành. Tuy nhiên, chúng tôi nhìn nhận
cạnh tranh theo hướng tích cực và lành mạnh. Thị trường đủ lớn và cạnh tranh
công bằng cuối cùng sẽ giúp củng cố cả nền kinh tế lẫn môi trường kinh doanh.</p>
<p class="text-justify">Nếu được chia sẻ một góc nhìn với doanh nghiệp nội địa, tôi
muốn nhấn mạnh đến yếu tố chất lượng. Điều chúng ta cạnh tranh và hợp tác chính
là chất lượng. Chất lượng có nhiều khía cạnh, nhưng tôi muốn tập trung vào ba
trụ cột chính, cũng là triết lý cốt lõi của SCG.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> chất lượng
nguồn nhân lực. Hiện chúng tôi sử dụng khoảng 15.000 lao động tại Việt Nam (từ
bán kỹ năng đến kỹ năng cao) và đầu tư hàng triệu USD mỗi năm cho phát triển
nhân sự trên toàn hệ thống. Tôi luôn khuyến khích các đối tác địa phương nhìn
nhận chi phí dành cho con người không phải là một khoản chi tiêu mà là một khoản
đầu tư. Cuối cùng, doanh nghiệp được vận hành bởi con người. Một số doanh nghiệp
hiểu điều này rất rõ và cải thiện nhanh chóng theo thời gian, trong khi một số
khác, đặc biệt là doanh nghiệp gia đình, có thể vẫn còn góc nhìn khác.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> chất lượng
sản phẩm và quy trình. Điều này gắn trực tiếp với đổi mới sáng tạo và cải tiến
liên tục. Khi mới xây dựng nhà máy tại Việt Nam, chúng tôi chủ yếu tập trung
vào các sản phẩm phổ thông phục vụ thị trường nội địa. Tuy nhiên, hiện nay SCG
đang đưa vào các công nghệ mới, tri thức mới và sáng tạo mới, bao gồm xi măng
carbon thấp hay các giải pháp bao bì xanh nhằm bắt kịp xu hướng phát triển. Tôi
tin rằng doanh nghiệp Việt Nam cũng cần làm điều tương tự và tiếp tục đầu tư
cho đổi mới sáng tạo.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> chất lượng
năng lực. Hoạt động sản xuất ngày nay không còn theo mô hình truyền thống hay
phụ thuộc nhiều vào lao động như trước. Chúng ta đang nói đến tự động hóa,
robot và AI. SCG hiện đang chuyển đổi sang mô hình sản xuất thông minh và các
doanh nghiệp cũng cần nâng cấp chính mình theo hướng đó. Công nghệ không hoàn
toàn thay thế con người, vai trò của con người vẫn rất quan trọng, dù trong vận
hành hệ thống hay phục vụ khách hàng. Tuy nhiên, việc nâng cao năng lực là yếu
tố then chốt. Ví dụ, chúng tôi đang hợp tác rất sâu với FPT để thúc đẩy các
sáng kiến sản xuất thông minh.</p>
<p class="text-justify">Một điểm tích cực của Việt Nam là cam kết và định hướng rất
rõ ràng của Chính phủ, đặc biệt liên quan đến mục tiêu phát thải ròng bằng 0
(Net Zero) và chuyển đổi xanh. Ở cấp độ chính sách, lộ trình ngày càng rõ ràng
hơn. Tuy nhiên, thách thức tiếp theo nằm ở khâu thực thi.</p>
<p class="text-justify">Tại SCG, chúng tôi tin rằng ESG không nên bị nhìn nhận đơn
thuần như một chi phí. Dù có thể cần đầu tư ban đầu, ESG đồng thời cũng tạo ra
giá trị dài hạn. Chính sách của Chính phủ có thể đóng vai trò thúc đẩy quá
trình chuyển đổi này. Ban đầu, các quy định, luật lệ và yêu cầu tuân thủ có thể
là cần thiết, nhưng không thể mãi dựa hoàn toàn vào chúng. Nếu không, doanh
nghiệp sẽ chỉ tìm cách né tránh.</p>
<p class="text-justify">Về lâu dài, thị trường, người tiêu dùng và hệ sinh thái rộng
lớn hơn cũng cần nhìn nhận giá trị của ESG. Khi điều đó xảy ra, động lực phát
triển sẽ hình thành một cách tự nhiên.</p>
<p class="text-justify">Điều này đưa chúng ta trở lại một điểm rất quan trọng: doanh
nghiệp FDI không thể tự làm một mình và doanh nghiệp nội địa cũng vậy. Ví dụ,
kinh tế tuần hoàn không thể được thực hiện bởi một doanh nghiệp đơn lẻ, điều đó
đòi hỏi một hệ sinh thái được xây dựng trên nền tảng niềm tin và cam kết dài hạn.
Chúng ta cần cùng nhau tiến lên để đạt được các mục tiêu ESG”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90650">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/0c42126b2bf342318f08e7ca9dd644a7-90650.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 14">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 <a href="tel:+19-2026" target="_blank">+19-2026</a> phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm</a></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="90298">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/16/e2b74cb321324c009500abe28ab048a6-90298.png" alt="FDI thế hệ mới: Đột phá công nghệ, gắn kết nội lực - Ảnh 15">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Việt Nam cần tiến tới làm chủ công nghệ UAV </title><description>L#224;m chủ c#244;ng nghệ m#225;y bay kh#244;ng người l#225;i (UAV) ch#237;nh l#224; tự chủ kh#244;ng gian, tự chủ về năng lực quốc ph#242;ng, gắn với tinh thần tự lực, tự cường của đất nước. C#225;c quốc gia tr#234;n thế giới đang đi rất nhanh, rất quyết liệt, nếu Việt Nam chậm ch#226;n, nguy cơ tụt hậu trong lĩnh vực n#224;y l#224; rất r#245; r#224;ng.</description><pubDate>Thu, 21 May 2026 00:35:28 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/viet-nam-can-tien-toi-lam-chu-cong-nghe-uav.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/viet-nam-can-tien-toi-lam-chu-cong-nghe-uav.htm</guid><atom:link href="/viet-nam-can-tien-toi-lam-chu-cong-nghe-uav.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/60bc2e46b8c1479f9e0903fd866148e6-90973.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Làm chủ công nghệ máy bay không người lái (UAV) chính là tự chủ không gian, tự chủ về năng lực quốc phòng, gắn với tinh thần tự lực, tự cường của đất nước. Các quốc gia trên thế giới đang đi rất nhanh, rất quyết liệt, nếu Việt Nam chậm chân, nguy cơ tụt hậu trong lĩnh vực này là rất rõ ràng.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="90966">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/5a35814311854a4b997eab49fe3e3fb0-90966.png" alt="Việt Nam cần tiến tới làm chủ công nghệ UAV  - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90967" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/1f427fb632994ba5b61ce13fe947b70e-90967.png" alt="Việt Nam cần tiến tới làm chủ công nghệ UAV  - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Kinh tế tầm thấp (Economy of low altitude) đang được nhiều quốc gia coi
là không gian tăng trưởng mới. Ở Việt Nam, khái niệm kinh tế tầm thấp đã bắt đầu
được chú ý, ông đánh giá thế nào về cơ hội, lợi thế của Việt Nam trong lĩnh vực
không gian kinh tế này?</i></b></p>
<p class="text-justify">Tôi cho rằng kinh tế tầm thấp sẽ là một không gian tăng trưởng
rất đáng chú ý trong giai đoạn tới. Khi nhắc tới kinh tế tầm thấp, nhiều người
thường chỉ nghĩ tới phương tiện bay, nhưng thực tế đây là một hệ sinh thái kinh
tế mới, bao gồm thiết bị bay, hạ tầng vận hành, điều hành bay, dữ liệu, phần mềm,
dịch vụ nhiệm vụ, bảo trì, đào tạo và các ngành công nghiệp phụ trợ...</p>
<p class="text-justify">Với Việt Nam, cơ hội là rất rõ ràng. Chúng ta có địa hình đa
dạng, nhu cầu lớn trong các lĩnh vực như giám sát hạ tầng, nông nghiệp, lâm
nghiệp, cứu hộ cứu nạn, an ninh, logistics chuyên dụng và chuyển đổi số tại hiện
trường... Đây đều là những lĩnh vực mà UAV có thể tạo ra hiệu quả rõ rệt về chi
phí, tốc độ và chất lượng dữ liệu. Việt Nam cũng có lợi thế về nguồn nhân lực kỹ
thuật trẻ, khả năng thích ứng công nghệ nhanh và thị trường nội địa đủ lớn trước
khi vươn ra bên ngoài.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, lợi thế lớn nhất không chỉ nằm ở nhu cầu, mà ở khả
năng chúng ta chủ động xây dựng được năng lực công nghệ và hệ sinh thái hỗ trợ.
Nếu làm tốt, kinh tế tầm thấp không chỉ tạo ra sản phẩm mới, mà còn tạo ra chuỗi
giá trị mới.</p>
<p class="text-justify">Với HTI, chúng tôi không nhìn UAV như một sản phẩm đơn lẻ mà
đang phát triển theo hướng hệ thống, tức là kết hợp phương tiện bay, payload,
trạm điều khiển, phần mềm quản lý, dữ liệu nhiệm vụ và khả năng tích hợp theo từng
bài toán ứng dụng. Đó là lợi thế rất quan trọng, vì thị trường trong tương lai
sẽ không chỉ mua một chiếc UAV, mà sẽ cần một giải pháp hoàn chỉnh: vận hành, bảo
trì và tạo ra giá trị thực tế.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90968" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/b954c75a13d04da7930e066d217da0f6-90968.png" alt="Việt Nam cần tiến tới làm chủ công nghệ UAV  - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Kinh tế tầm thấp, trong đó lĩnh vực máy bay không người lái (UAV) chiếm
vị trí quan trọng, được nhìn nhận là một trong những động lực góp phần vào tăng
trưởng kinh tế hai chữ số của Việt Nam trong thập kỷ tới. Nếu “đo đếm” bằng
dung lượng thị trường, theo ông, lĩnh vực này có quy mô và vai trò như thế nào
trong chiến lược phát triển kinh tế trong kỷ nguyên mà khoa học, công nghệ, đổi
mới sáng tạo là động lực chính của tăng trưởng?</i></b></p>
<p class="text-justify">Quy mô kinh tế Việt Nam hiện khoảng hơn 500 tỷ USD, trong
khi đến năm 2030, kinh tế tầm thấp mới được dự báo đạt khoảng 10 tỷ USD. Như vậy,
tỷ trọng đóng góp trực tiếp của lĩnh vực này vẫn còn khá khiêm tốn.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, khi lĩnh vực UAV phát triển sẽ có khả năng kích
hoạt và lan tỏa sang nhiều lĩnh vực khác, nhờ tối ưu hóa nguồn lực, tiết kiệm
nhân công và nâng cao năng suất trong hàng loạt ngành nghề. Vì vậy, nếu chỉ
nhìn kinh tế tầm thấp như một ngành độc lập thì vai trò của nó có thể chưa thực
sự nổi bật; nếu đặt trong bức tranh tổng thể thì đây lại là một không gian tăng
trưởng rất đáng chú ý trong giai đoạn tới.</p>
<p class="text-justify">Kinh tế tầm thấp không chỉ là các phương tiện bay, mà thực
chất là một hệ sinh thái kinh tế mới, bao gồm thiết bị bay, hạ tầng vận hành, hệ
thống điều hành bay, dữ liệu, phần mềm, dịch vụ nhiệm vụ, bảo trì, đào tạo và
các ngành công nghiệp phụ trợ liên quan.</p>
<p class="text-justify">Ví dụ như trong lĩnh vực logistics, đặc biệt tại các khu vực
địa hình phức tạp, hiểm trở, lợi thế của UAV càng rõ rệt. Những quãng đường rừng
10 km mất hàng giờ di chuyển bằng phương tiện truyền thống, nhưng với UAV, thời
gian có thể rút ngắn xuống chỉ còn vài phút. </p>
<p class="text-justify">Với các tòa nhà cao tầng, xe chuyên dụng khó tiếp cận, UAV lại
có thể tiếp cận nhanh chóng ở độ cao 30, 50, thậm chí 100 tầng. Từ đó, mở ra khả
năng triển khai các giải pháp chữa cháy từ trên cao hoặc hỗ trợ cứu hộ trong những
tình huống khẩn cấp.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90969" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/63161d67daa14dd3a7c236f1abdf95f3-90969.png" alt="Việt Nam cần tiến tới làm chủ công nghệ UAV  - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>HTI được biết đến là một trong những doanh nghiệp “dấn thân” khá sớm
vào lĩnh vực UAV và hiện nằm trong số ít doanh nghiệp trong nước đang tự sản xuất
UAV. Vậy đến nay, HTI đã có lãi trong lĩnh vực UAV chưa, thưa ông?</i></b></p>
<p class="text-justify">Chúng tôi bắt đầu nghiên cứu và phát triển máy bay không người
lái từ năm 2020. Những ngày ấy, câu chuyện sản xuất máy bay không người lái vẫn
còn khá xa vời. Tuy nhiên, may mắn thời điểm đó HTI đang đại diện và phân phối
độc quyền cho khá nhiều công ty công nghệ hàng đầu thế giới trong ngành, nhờ đó
đội ngũ có cơ hội được đào tạo, tiếp cận những công nghệ hiện đại từ thiết kế,
khí động học, cơ khí, phần mềm cho đến tích hợp cho UAV.  Khi đó cũng một số công ty làm máy bay không
người lái, nhưng chủ yếu là các dòng drone phổ thông. HTI không đi theo hướng
đó, mà tập trung vào dòng VTOL (máy bay cất hạ cánh thẳng đứng), vì: một là, muốn
khác biệt với thị trường; hai là, quyết định cũng xuất phát từ bài toán thực tế.
</p>
<p class="text-justify">Nghiên cứu, thử nghiệm mất 3 năm thì ra được sản phẩm. Khi dần
làm chủ được công nghệ, làm chủ được khí động học, truyền dẫn tín hiệu, phân
tích hình ảnh…,  lúc đó chúng tôi mới dám
thử nghiệm đến các vật liệu như fiber optic hay composite như bây giờ. </p>
<p class="text-justify">Dấu mốc quan trọng là khi HTI đưa sản phẩm bay thử với các lực
lượng thực thi pháp luật tại Bắc Ninh. UAV đạt cự ly trên 30 km, thời gian bay
khoảng 150 phút mà vẫn còn dung lượng pin dự phòng, tín hiệu truyền ổn định và
chất lượng hình ảnh tốt. Ban lãnh đạo Công ty và anh em Bộ phận RD (nghiên
cứu và phát triển) mới thực sự tự tin với sản phẩm, lúc đó mới dám khẳng định
đã làm chủ công nghệ.</p>
<p class="text-justify">Dù vậy, đến thời điểm hiện tại HTI vẫn lỗ. Làm RD thất
bại là nhiều chứ thành công là mấy. Chúng tôi xác định làm RD thì không thể
hoàn vốn nhanh được. </p>
<p class="text-justify"><b><i>Chiến lược làm sản phẩm UAV của doanh nghiệp hướng tới đối tượng khách
hàng nào?</i></b></p>
<p class="text-justify">Ngay từ đầu, chúng tôi đã muốn sản xuất UAV để phục vụ cho
giám sát, trinh sát, kiểm tra hiện trường và vận hành trong những điều kiện đòi
hỏi độ tin cậy cao. Như vậy sẽ cần loại thiết bị có khả năng bay xa, bay cao,
thời gian bay dài, đồng thời giám sát và truyền hình ảnh về trụ sở một cách ổn
định, bảo mật.</p>
<p class="text-justify">Tại thời điểm đó, ở Việt Nam chỉ phổ biến các dòng drone chỉ
bay được 5–6 km, xa lắm thì 10 km. Khi đó, HTI mới quyết định sản xuất Horus,
UAV có khả năng bay tới 30–50 km, thời gian bay khoảng 150 phút, tức là 2 tiếng
rưỡi và tốc độ có thể lên đến hàng trăm km/h. Rất may khi triển khai bay thử
cho các đơn vị thực thi pháp luật thì đều đáp ứng được yêu cầu nghiệp vụ.</p>
<p class="text-justify">Trong quá trình làm, HTI may mắn cũng nhận được sự quan tâm,
tạo điều kiện từ phía cơ quan quản lý, trong đó có Bộ Khoa học và Công nghệ.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90970" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/d0ba65d56d544a1283b2cbf80d460919-90970.png" alt="Việt Nam cần tiến tới làm chủ công nghệ UAV  - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Tại Triển lãm Tuần lễ Số quốc tế Việt Nam vào tháng 10/2025, HTI đã
mang sản phẩm UAV trinh sát VTOL Horus P02 bay ở độ cao 200 mét, sử dụng hệ thống
AI để phát hiện, ghi hình các mục tiêu chuyển động, truyền hình ảnh độ phân giải
cao ra trình diễn và công bố đạt tỷ lệ nội địa hóa khoảng 80%. Vậy hiểu tỷ lệ
80% nội địa hóa ở đây là nằm ở những cấu phần như thế nào? Ông nghĩ sao về việc
Việt Nam có thể tạo ra sản phẩm UAV 100% nội địa hóa?</i></b></p>
<p class="text-justify">Nội địa hóa không chỉ được hiểu theo góc nhìn vật tư, mà còn
phải nhìn ở góc độ năng lực kỹ thuật, quy trình phát triển và mức độ chủ động
trong cải tiến sản phẩm.</p>
<p class="text-justify">Từ thiết kế tổng thể nền tảng UAV, kết cấu thân vỏ và cơ
khí, tích hợp hệ thống, phát triển một phần mềm,...  chúng tôi đều đã làm chủ nên hoàn toàn tự tin
có thể thiết kế hệ thống đồng bộ theo yêu cầu ứng dụng thực tế, chứ không chỉ lắp
ráp từ các modul sẵn có.</p>
<p class="text-justify">Tuy vậy, chúng tôi cũng nhìn nhận rất thực tế rằng, trong
chuỗi giá trị UAV hiện nay, vẫn có những phần Việt Nam nói chung và HTI nói
riêng còn phụ thuộc vào bên ngoài, đặc biệt là một số linh kiện điện tử, cảm biến
chuyên dụng, vật liệu hoặc các cụm linh kiện có hàm lượng công nghệ vi điện tử
rất cao. Đây là thách thức chung của hầu hết các doanh nghiệp công nghệ đang
phát triển theo hướng làm chủ thiết bị phức tạp.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi đi theo lộ trình rõ ràng: phần nào có thể chủ động
thiết kế và sản xuất trong nước thì đẩy mạnh nội địa hóa; phần nào chưa làm được
ngay thì chủ động tích hợp, kiểm soát chất lượng và từng bước tìm hướng thay thế.</p>
<p class="text-justify">Tất nhiên, chúng tôi rất mong sẽ sớm có một hệ sinh thái
doanh nghiệp cùng hợp tác từ trong nước. Nhất là trong bối cảnh thế giới đang
phân mảnh, phân cực mạnh, việc làm chủ sản phẩm và sản xuất trong nước là rất
quan trọng. Nếu các doanh nghiệp trong hệ sinh thái phối hợp tốt với nhau thì
việc các doanh nghiệp Việt tạo ra sản phẩm 100% nội địa là hoàn toàn khả thi.</p>
<p class="text-justify">Kinh tế tầm thấp thực chất là một hệ sinh thái mới, với tiềm
năng rất lớn, nhưng để phát triển cần thời gian, chính sách rõ ràng và sự tham
gia đồng bộ của nhiều doanh nghiệp. Về phía HTI, chúng tôi xác định sẽ tiếp tục
đầu tư mạnh cho UAV, trong đó có kế hoạch xây dựng nhà máy UAS với tổng vốn hơn
50 triệu USD để sẵn sàng cho giai đoạn phát triển tiếp theo.</p>
<p class="text-justify"><b><i>Cụ thể, nhà máy sản xuất của HTI có công suất dự kiến bao nhiêu, thưa
ông?</i></b></p>
<p class="text-justify">Khoảng 3.000 UAV mỗi năm, phục vụ cả thị trường trong nước
và xuất khẩu. Đây là mức tính toán thận trọng. Nếu chúng tôi mở rộng quá nhanh
khi thị trường chưa sẵn sàng sẽ gây lãng phí, nhưng nếu không chuẩn bị trước
thì khi cơ hội đến lại khó đáp ứng kịp.</p>
<p class="text-justify">Trong 5–10 năm tới, UAV chắc chắn sẽ là lĩnh vực mà HTI đầu
tư nhiều nguồn lực nhất vì đã nhìn thấy rõ cơ hội và tiềm năng của thị trường
này. Tuy nhiên, đây cũng là lĩnh vực cần đầu tư rất quyết liệt, nguồn lực lớn,
nên chúng tôi đã xác định chấp nhận lỗ trong thời gian dài và đầu tư hết năng lực
của mình.</p>
<p class="text-justify">Để phát triển bền vững, doanh nghiệp không thể đi một mình.
Ngành này cần một hệ sinh thái đủ mạnh, từ linh kiện, vật liệu đến các hệ thống
phụ trợ.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90971" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/e0d1fd01dcd3402eac7da1fbfa106162-90971.png" alt="Việt Nam cần tiến tới làm chủ công nghệ UAV  - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Thực tế thời gian qua khi các cuộc xung đột xảy ra, người ta bắt đầu
nhìn nhận UAV không còn chỉ là một phần của kinh tế tầm thấp mà đã trở thành yếu
tố then chốt trong năng lực phòng vệ hiện đại. Ông nghĩ sao về hướng đi này? </i></b></p>
<p class="text-justify">Tại các triển lãm quốc phòng gần đây, sản phẩm vũ khí truyền
thống như súng ống không còn là trọng tâm nữa, thay vào đó UAV trinh sát, UAV cảm
tử, UAV tàng hình, các hệ thống chống radar… lại nhận được sự quan tâm rất lớn.
</p>
<p class="text-justify">UAV về bản chất là một nền tảng mang phụ tải (payload), nên
khi đã làm chủ được công nghệ thì mang gì là do mình quyết định: có thể là
camera, radar, cảm biến, hoặc các thiết bị khác tùy theo mục đích sử dụng.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, để bứt tốc nhanh cũng không đơn giản, vì còn nhiều
hạn chế về công nghệ, vật liệu, nhân lực, do đó, rất cần một cú hích từ chính
sách cho thị trường. </p>
<p class="text-justify"><b><i>Cụ thể đó là những chính sách nào, thưa ông? </i></b></p>
<p class="text-justify">Theo tôi, <i>thứ nhất</i>,
cần một khung chính sách rõ ràng, ổn định và có khả năng dự báo. Doanh nghiệp
chỉ có thể đầu tư dài hạn khi biết sân chơi sẽ vận hành như thế nào, quy trình
thử nghiệm, cấp phép, khai thác và thương mại hóa ra sao. Một lĩnh vực mới mà
quy định còn phân tán hoặc thay đổi khó lường thì rất khó để hình thành đầu tư
lớn.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> cần cơ chế
thử nghiệm có kiểm soát cho các công nghệ và mô hình khai thác mới. UAV không
thể phát triển nếu doanh nghiệp chỉ nghiên cứu trong phòng lab mà không có điều
kiện bay thử, kiểm chứng, tích hợp và đánh giá theo kịch bản thực tế. Cần có
không gian thử nghiệm, cơ chế sandbox và hành lang pháp lý đủ linh hoạt để
doanh nghiệp đổi mới nhưng vẫn bảo đảm an toàn và quản lý nhà nước.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> cần thị
trường dẫn dắt ban đầu. Với những công nghệ chiến lược, thị trường ban đầu rất
quan trọng. Nếu có những chương trình đặt hàng, thử nghiệm hoặc ưu tiên sử dụng
sản phẩm trong nước ở các bài toán phù hợp, doanh nghiệp sẽ có cơ hội hoàn thiện
công nghệ, nâng chất lượng và hình thành năng lực cạnh tranh thực sự.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ tư,</i> phát triển
hệ sinh thái công nghiệp hỗ trợ và nguồn nhân lực. Làm UAV không chỉ cần kỹ sư
hàng không, mà còn cần cơ khí chính xác, điện tử, điều khiển, phần mềm, dữ liệu,
vật liệu, sản xuất thử nghiệm, kiểm định và dịch vụ sau bán hàng. Thực tế từ
HTI, thời gian tới, nhu cầu nhân lực của chúng tôi sẽ rất lớn. Hiện nay, việc
tuyển kỹ sư UAV không hề dễ, phần lớn vẫn phải tự đào tạo, tự nghiên cứu vì
chưa có nhiều chương trình đào tạo bài bản. </p>
<p class="text-justify"><i>Thứ năm,</i> nên nhìn
UAV không chỉ như một sản phẩm công nghệ, mà như một ngành kinh tế mới. Khi tiếp
cận như vậy, chúng ta sẽ không chỉ nói về chiếc máy bay, mà sẽ nói về chuỗi giá
trị, về dữ liệu, dịch vụ, hạ tầng và năng lực công nghiệp quốc gia. Nếu có cách
tiếp cận đó, UAV hoàn toàn có thể trở thành một lĩnh vực đóng góp thực chất cho
tăng trưởng trong giai đoạn tới.</p>
<p class="text-justify"><b><i>Trong số 5 chính sách mà ông kiến nghị trên, nếu được chọn
chính sách cần kíp và có khả năng lan tỏa, tác động tức thì đến các doanh nghiệp
UAV của Việt Nam, trong đó có HTI, theo ông là gì?</i></b></p>
<p class="text-justify">Với doanh nghiệp, cơ chế đặt hàng sản xuất từ sớm có ý nghĩa
rất quan trọng. Tuy nhiên, trước mắt, cấp thiết hơn có lẽ là sớm hình thành các
khu vực thử nghiệm bay cho UAV. Câu chuyện này đã được nhắc đến nhiều, nhưng đến
nay vẫn chưa có quy hoạch cụ thể. Thực tế, nhiều khi chúng tôi phải di chuyển rất
xa mới có thể tổ chức bay thử, gây ra không ít khó khăn trong quá trình nghiên
cứu và phát triển.</p>
<p class="text-justify">Ngoài ra, cũng cần có chính sách hỗ trợ đào tạo từ các trường,
các viện để bổ sung nguồn nhân lực cho ngành. Chúng ta đang nhắc đến động lực
tăng trưởng từ kinh tế tầm thấp, nhưng lực lượng kỹ sư, chuyên gia cho lĩnh vực
này vẫn còn thiếu. Nếu lĩnh vực này phát triển quá nhanh mà lại không có đủ
nhân lực thì cũng khó triển khai. </p>
<p class="text-justify">Tóm lại, đây là thời điểm doanh nghiệp công nghệ rất cần được
chính sách “nuôi dưỡng”. Nghị quyết số 57-NQ/TW là sự động viên rất lớn đối HTI
Group nói riêng và với các doanh nghiệp công nghệ Việt Nam nói chung.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90972" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/9105ae2d0bf94623a3cbb1a901f35c94-90972.png" alt="Việt Nam cần tiến tới làm chủ công nghệ UAV  - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 <a href="tel:+19-2026" target="_blank">+19-2026</a> phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm</a></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="90307">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/16/61992abcc6d1433989852415b8f39513-90307.png" alt="Việt Nam cần tiến tới làm chủ công nghệ UAV  - Ảnh 8">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Hợp lực dòng vốn trong và ngoài nước: Động lực cốt lõi cho kỷ nguyên tăng trưởng mới</title><description>Trong bối cảnh hội nhập ng#224;y c#224;ng s#226;u rộng, việc tăng cường kết nối v#224; hợp lực giữa khu vực đầu tư nước ngo#224;i v#224; doanh nghiệp trong nước trở th#224;nh y#234;u cầu quan trọng để th#250;c đẩy tăng trưởng. Kh#244;ng chỉ dừng lại ở thu h#250;t vốn, mục ti#234;u đặt ra l#224; h#236;nh th#224;nh c#225;c li#234;n kết thực chất, qua đ#243; n#226;ng cao năng lực nội tại của nền kinh tế v#224; hướng tới tăng trưởng cao, bền vững trong giai đoạn tới.</description><pubDate>Wed, 20 May 2026 01:30:37 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/hop-luc-dong-von-trong-va-ngoai-nuoc-dong-luc-cot-loi-cho-ky-nguyen-tang-truong-moi.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/hop-luc-dong-von-trong-va-ngoai-nuoc-dong-luc-cot-loi-cho-ky-nguyen-tang-truong-moi.htm</guid><atom:link href="/hop-luc-dong-von-trong-va-ngoai-nuoc-dong-luc-cot-loi-cho-ky-nguyen-tang-truong-moi.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/f0d8b03059d8461f99f16d9ab25e3801-91019.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, việc tăng cường kết nối và hợp lực giữa khu vực đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước trở thành yêu cầu quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng. Không chỉ dừng lại ở thu hút vốn, mục tiêu đặt ra là hình thành các liên kết thực chất, qua đó nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế và hướng tới tăng trưởng cao, bền vững trong giai đoạn tới.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="91011" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/73702cdf8d7e49b79b3904d2bb1f2cc7-91011.png" alt="Hợp lực dòng vốn trong và ngoài nước: Động lực cốt lõi cho kỷ nguyên tăng trưởng mới - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91012" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/4e1306ecfa3b4a7f9e6b14d242d6462c-91012.png" alt="Hợp lực dòng vốn trong và ngoài nước: Động lực cốt lõi cho kỷ nguyên tăng trưởng mới - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify">Trước những
biến động của dòng vốn toàn cầu, Việt Nam vẫn duy trì sức hút đối với FDI và
các nguồn lực đầu tư xã hội. Trong giai đoạn 2021 - 2025, quy mô vốn đầu tư
toàn xã hội tăng mạnh, trong đó khu vực tư nhân và FDI ngày càng đóng vai trò
chủ lực. Bước sang giai đoạn mới, yêu cầu không chỉ là tăng trưởng cao mà còn
phải bền vững, chất lượng hơn. Điều này đòi hỏi huy động nguồn vốn lớn hơn, đồng
thời tái định hình chiến lược thu hút FDI theo hướng chất lượng cao, gắn với
chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Giai đoạn
2021 - 2025, tổng vốn đầu tư toàn xã hội đạt khoảng 17 triệu tỷ đồng, tương
đương 680 tỷ USD. Trong cơ cấu nguồn vốn, khu vực nhà nước chỉ chiếm khoảng
27%, trong khi 73% còn lại đến từ khu vực kinh tế tư nhân, bao gồm doanh nghiệp
trong nước, doanh nghiệp FDI và nguồn vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài. Điều này
cho thấy khu vực tư nhân, đặc biệt là FDI, ngày càng giữ vai trò quan trọng đối
với nền kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Đáng chú ý,
FDI tiếp tục là một trong những động lực quan trọng hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Cũng trong giai đoạn này, quy mô nguồn vốn này tăng khoảng 1,5 lần, từ 2,9 triệu
tỷ đồng lên khoảng 4,2 triệu tỷ đồng, hiện chiếm khoảng 16% tổng vốn đầu tư
toàn xã hội.</p>
<p class="text-justify">Tổng vốn
đăng ký của khu vực FDI đạt khoảng 184 tỷ USD, trong đó vốn thực hiện đạt khoảng
158 tỷ USD, tương đương khoảng 85% vốn đăng ký. Đây được đánh giá là tỷ lệ giải
ngân tích cực so với nhiều quốc gia trong khu vực, phản ánh khả năng hấp thụ và
triển khai vốn đầu tư hiệu quả của Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Phần lớn vốn
FDI tập trung vào công nghiệp chế biến, chế tạo với tỷ trọng khoảng 56,5%; lĩnh
vực kinh doanh bất động sản chiếm 21,2%. Ngoài nhà ở, dòng vốn bất động sản còn
được phân bổ vào các dự án khu du lịch nghỉ dưỡng, khu công nghiệp và khu chế
xuất, góp phần nâng cao năng lực sản xuất và tạo sức hút cho các dòng vốn đầu
tư tiếp theo.</p>
<p class="text-justify">Trong bối
cảnh dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài toàn cầu có xu hướng chững lại, Việt
Nam vẫn duy trì sức hút đáng kể đối với các nhà đầu tư quốc tế.</p>
<p class="text-justify">Năm 2025,
tổng dòng vốn FDI toàn cầu đạt khoảng 1.600 tỷ USD. Dù kinh tế thế giới tăng
trưởng chậm và tác động đến dòng vốn đầu tư quốc tế, Việt Nam vẫn thu hút khoảng
38 tỷ USD FDI, tương đương 2,7% tổng dòng vốn toàn cầu.</p>
<p class="text-justify">Việt Nam đồng
thời nằm trong nhóm 15 nền kinh tế đang phát triển thu hút FDI nhiều nhất trong
năm qua, tiếp tục khẳng định vị thế trong mắt nhà đầu tư quốc tế và vai trò
ngày càng rõ nét trên bản đồ thu hút vốn đầu tư nước ngoài toàn cầu. Đây cũng
là cơ sở quan trọng để nhận diện xu hướng mới và phát huy hiệu quả hơn các lợi
thế cạnh tranh trong thu hút dòng vốn quốc tế.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91013" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/7705717272ff4b0387233dbaa9023900-91013.png" alt="Hợp lực dòng vốn trong và ngoài nước: Động lực cốt lõi cho kỷ nguyên tăng trưởng mới - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">Giai đoạn
2026-2030, dòng vốn đầu tư nước ngoài được dự báo tiếp tục tăng nhưng khó xuất
hiện các đợt bứt phá mạnh về quy mô. Thay vào đó là sự dịch chuyển rõ nét trong
xu hướng đầu tư, khi các doanh nghiệp toàn cầu ưu tiên chiến lược đưa sản xuất
về gần thị trường nội địa hoặc dịch chuyển sang các quốc gia được xem là đối
tác thân thiện, có môi trường đầu tư ổn định và phù hợp định hướng phát triển.</p>
<p class="text-justify">Sự dịch
chuyển này cũng đặt ra yêu cầu để Việt Nam rà soát lại vị thế trong chuỗi cung ứng
toàn cầu, từ đó điều chỉnh chiến lược thu hút đầu tư theo hướng phù hợp hơn với
các xu hướng dịch chuyển vốn mới.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh
đó, FDI giai đoạn mới dự kiến tập trung nhiều hơn vào đầu tư xanh, phát triển
chuỗi cung ứng an toàn, tự chủ về công nghệ và các dự án gắn với mục tiêu an
ninh kinh tế. Các nhà đầu tư ngày càng chú trọng không chỉ hiệu quả kinh doanh
mà còn là khả năng chống chịu và an ninh chuỗi cung ứng, mở ra dư địa để Việt
Nam nâng cao sức hấp dẫn thu hút vốn.</p>
<p class="text-justify">Việt Nam đặt
mục tiêu tăng trưởng cao gắn với yêu cầu phát triển bền vững, tổng nhu cầu vốn
đầu tư của nền kinh tế ước khoảng 38,5 triệu tỷ đồng trong giai đoạn này. Trong
đó, khu vực kinh tế trong nước và vốn FDI dự kiến đáp ứng khoảng 80%, còn khu vực
nhà nước khoảng 20%.</p>
<p class="text-justify">Cơ cấu này
cho thấy khu vực tư nhân tiếp tục giữ vai trò chủ lực, trong khi FDI là nguồn lực
quan trọng bảo đảm tăng trưởng. Để đạt mục tiêu đề ra, mỗi năm Việt Nam cần thu
hút khoảng 45-50 tỷ USD vốn FDI đăng ký và khoảng 35-40 tỷ USD vốn thực hiện nhằm
bảo đảm đủ nguồn lực cho tăng trưởng dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên,
yêu cầu không chỉ là tăng quy mô mà còn nâng cao chất lượng dòng vốn. Việt Nam
đang định hướng thu hút thế hệ FDI mới, không chỉ đáp ứng về quy mô mà còn tạo
giá trị gia tăng cao cho nền kinh tế. Theo đó, FDI cần tập trung vào tăng trưởng
xanh, phát triển bền vững, có trách nhiệm xã hội, đồng thời góp phần nâng cao
năng lực tự chủ công nghệ, thúc đẩy chuyển giao tri thức và công nghệ.</p>
<p class="text-justify">Một trọng
tâm quan trọng của thế hệ FDI mới là tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI
và doanh nghiệp trong nước, qua đó nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị và
hướng tới nền kinh tế tự chủ, tự cường. </p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên,
thực trạng hiện nay cho thấy dư địa kết nối giữa hai khu vực vẫn còn rất lớn.
Hiện Việt Nam có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, nhưng chỉ khoảng
5.000 doanh nghiệp tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu hoặc cung ứng cho các tập
đoàn đa quốc gia (MNC). Trong số này, chỉ khoảng 300 doanh nghiệp là nhà cung cấp
cấp 1 hoặc cấp 2, số doanh nghiệp là nhà cung cấp cấp 1, tức có khả năng cung ứng
trực tiếp cho các tập đoàn đa quốc gia, chỉ khoảng 100 doanh nghiệp.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91015" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/5ed5c663d7684e7f89161946cf5e5d51-91015.png" alt="Hợp lực dòng vốn trong và ngoài nước: Động lực cốt lõi cho kỷ nguyên tăng trưởng mới - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify">Trong khi
đó, tỷ lệ giá trị gia tăng nội địa của doanh nghiệp Việt Nam trong tổng kim ngạch
xuất khẩu mới đạt khoảng 12,7%, cho thấy mức độ tham gia vào chuỗi giá trị toàn
cầu vẫn còn hạn chế. </p>
<p class="text-justify">Khu vực
doanh nghiệp trong nước hiện vẫn đang đối mặt với không ít thách thức nội tại.
Năng suất lao động của Việt Nam hiện chỉ bằng khoảng một nửa so với Thái Lan và
khoảng một phần tư so với Malaysia, chưa kể khoảng cách với các nền kinh tế
phát triển hơn trong khu vực như Singapore. </p>
<p class="text-justify">Khoảng
60-70% doanh nghiệp vẫn đang sử dụng công nghệ cũ, khiến khả năng đáp ứng yêu cầu
ngày càng cao của chuỗi cung ứng toàn cầu gặp nhiều trở ngại.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh
đó, tỷ lệ nội địa hóa trong ngành điện - điện tử hiện mới đạt khoảng 35%, ngành
cơ khí chế tạo khoảng 25-30%. Quy mô vốn trung bình của doanh nghiệp chỉ ở mức
khoảng 82,5 tỷ đồng, trong khi chi cho nghiên cứu và phát triển (RD) khoảng
1% doanh thu, thấp hơn đáng kể so với mức 4-5% tại các nền kinh tế công nghệ
cao. </p>
<p class="text-justify">Những con
số này phản ánh yêu cầu cấp thiết phải tăng cường kết nối giữa doanh nghiệp
trong nước và khu vực FDI nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và gia tăng giá trị
nội địa cho nền kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên,
quá trình này không thể chỉ dựa vào sự chủ động hay thiện chí từ phía doanh
nghiệp nước ngoài mà đòi hỏi doanh nghiệp Việt Nam phải có sự chuẩn bị bài bản
hơn, từ năng lực sản xuất, quản trị, chiến lược phát triển đến khả năng đáp ứng
các tiêu chuẩn ngày càng cao của chuỗi cung ứng toàn cầu. Để tham gia sâu hơn
vào chuỗi giá trị toàn cầu, doanh nghiệp cũng cần chuyển từ tư duy “gia công”
sang tạo ra giá trị gia tăng cao hơn, từng bước thoát khỏi mô hình cạnh tranh
“giá rẻ - lợi nhuận thấp” và xác lập vị trí có giá trị, khó thay thế trong chuỗi
giá trị toàn cầu (GVC).</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh
đó, việc nâng cao năng lực kỹ thuật, đẩy mạnh tự động hóa, chuyển đổi số, đáp ứng
các tiêu chuẩn quốc tế và yêu cầu mới như ESG, cùng với đầu tư cho nguồn nhân lực,
tri thức và kỹ năng nghề, ngoại ngữ, hiểu biết về văn hóa, kỹ năng làm việc với
các tập đoàn nước ngoài, sẽ là những yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp nâng
cao năng lực liên kết, tăng sức cạnh tranh và tạo nền tảng phát triển bền vững
hơn cho nền kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Việc thúc
đẩy liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực đầu tư nước ngoài cần được
xây dựng trên nguyên tắc hài hòa lợi ích, bảo đảm giá trị gia tăng cho cả hai
phía. Theo đó, tư duy và nguyên tắc đảm bảo lợi ích cho cả hai bên “win - win”
cần trở thành nền tảng trong thiết kế chính sách cũng như quá trình triển khai
thực tế nhằm tạo động lực hợp tác lâu dài và bền vững.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91016" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/cc009c67f95c4f8eac6ed7f6ce51017d-91016.png" alt="Hợp lực dòng vốn trong và ngoài nước: Động lực cốt lõi cho kỷ nguyên tăng trưởng mới - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">Các nguyên
tắc thương mại và cơ chế thị trường cần được xem là nền tảng để tăng cường kết
nối, không chỉ ở cấp độ hoạch định chính sách mà cả trong khâu tổ chức thực hiện.
Những mô hình hợp tác vận hành theo cơ chế thị trường thường có tính ổn định và
khả năng duy trì lâu dài hơn. Chẳng hạn, chuyển giao công nghệ chỉ thực sự hiệu
quả và bền vững khi được thúc đẩy trên cơ sở lợi ích kinh tế rõ ràng, đáp ứng
nhu cầu của cả doanh nghiệp tiếp nhận và doanh nghiệp chuyển giao.</p>
<p class="text-justify">Một nội
dung đáng chú ý khác là vai trò của dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài (FII).
Liên kết giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài không chỉ hình
thành qua chuỗi cung ứng, mà còn thông qua các hoạt động tài chính như mua bán,
sáp nhập hoặc sở hữu cổ phần. Đây là kênh quan trọng giúp tăng mức độ gắn kết
giữa doanh nghiệp Việt Nam và dòng vốn quốc tế.</p>
<p class="text-justify">Chẳng hạn,
dòng vốn nước ngoài đầu tư vào doanh nghiệp Việt Nam qua mua cổ phần, hoặc
doanh nghiệp Việt Nam đầu tư vào các doanh nghiệp FDI niêm yết, đều có thể tạo
ra liên kết sâu hơn. Việc gia tăng số lượng doanh nghiệp FDI tham gia thị trường
vốn cũng mở rộng cơ hội để nhà đầu tư trong nước tiếp cận và kết nối với khu vực
đầu tư quốc tế.</p>
<p class="text-justify">Trên thực
tế, dòng vốn FII vào Việt Nam trong thời gian qua được đánh giá có nhiều tiềm
năng. Trong khoảng một thập kỷ gần đây, quy mô dòng vốn FII vào Việt Nam đã đạt
khoảng 75 tỷ USD, phản ánh dư địa phát triển còn khá lớn đối với kênh huy động
vốn này trong thời gian tới.</p>
<p class="text-justify">Theo dự
báo, thị trường chứng khoán Việt Nam có thể thu hút tới 25 tỷ USD vốn đầu tư quốc
tế đến năm 2030. Riêng việc nâng hạng thị trường bởi FTSE Russell và MSCI có thể
kích hoạt khoảng 5 tỷ USD dòng vốn từ các quỹ ETF và quỹ tương hỗ trong giai đoạn
đầu.</p>
<p class="text-justify">Thời gian
qua, dòng vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài cho thấy vai trò ngày càng rõ nét, đặc
biệt thông qua hoạt động mua cổ phần tại các doanh nghiệp trong nước. Qua đó,
khẳng định vai trò và tiềm năng lớn của kênh huy động vốn này, đồng thời cho thấy
dư địa đáng kể trong việc khai thác hiệu quả hơn các hình thức đầu tư tài chính
để thúc đẩy kết nối giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực đầu tư quốc tế.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91017" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/f845c78a3d3c48df81b9759626c74447-91017.png" alt="Hợp lực dòng vốn trong và ngoài nước: Động lực cốt lõi cho kỷ nguyên tăng trưởng mới - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify">Với tiềm
năng đó, việc tăng cường thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp cần được quan tâm
trong thời gian tới. Không chỉ là nguồn lực tài chính quan trọng mà còn giúp mở
rộng các kênh liên kết giữa doanh nghiệp Việt Nam và nhà đầu tư quốc tế.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên,
số lượng doanh nghiệp FDI niêm yết trên thị trường chứng khoán vẫn còn hạn chế,
khiến cơ hội tham gia đầu tư thông qua sở hữu cổ phần hoặc góp vốn vào nhóm
doanh nghiệp này chưa thực sự rộng mở. Hiện chỉ có khoảng 10 doanh nghiệp FDI
đang niêm yết, tương đương khoảng 0,6% tổng số doanh nghiệp niêm yết và chỉ khoảng
0,03% tổng số doanh nghiệp FDI đang hoạt động tại Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Về quy mô,
nhóm này có tổng vốn hóa khoảng 320 triệu USD, tương đương khoảng 0,13% tổng vốn
hóa thị trường chứng khoán. Những con số này cho thấy tỷ trọng còn rất nhỏ
trong cả hệ thống doanh nghiệp FDI lẫn thị trường vốn, qua đó phản ánh một khoảng
trống đáng chú ý trong việc phát triển các kênh kết nối tài chính giữa khu vực
đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước.</p>
<p class="text-justify">Trong thời
gian tới, việc tăng cường kết nối thông qua các hình thức đầu tư tài chính, bao
gồm đầu tư chéo giữa doanh nghiệp FDI với nhà đầu tư trong nước hoặc giữa nhà đầu
tư nước ngoài với doanh nghiệp Việt Nam, có thể trở thành một hướng đi cần được
thúc đẩy mạnh hơn. Đây là một tư duy mới cần được thúc đẩy trong chiến lược về
thu hút vốn đầu tư nước ngoài nói chung và trong bối cảnh tăng cường kết nối giữa
khu vực có vốn đầu tư nước ngoài và khu vực kinh tế trong nước nói riêng.</p>
<p class="text-justify">Qua đó, mối
liên kết giữa khu vực đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước sẽ không chỉ
dừng lại ở hoạt động mua bán, cung ứng, là nhà cung cấp hay hợp tác sản xuất,
mà còn được mở rộng thông qua các hình thức đầu tư gián tiếp, tạo nền tảng cho
sự gắn kết sâu rộng và bền vững hơn.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91018" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/b563ddee9999498a8eeec159d430a690-91018.png" alt="Hợp lực dòng vốn trong và ngoài nước: Động lực cốt lõi cho kỷ nguyên tăng trưởng mới - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 <a href="tel:+19-2026" target="_blank">+19-2026</a> phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link:<a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a></p>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Nâng chất dòng vốn đầu tư, tạo động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới</title><description>Giữa bối cảnh cạnh tranh thu h#250;t đầu tư ng#224;y c#224;ng khốc liệt v#224; m#244;i trường t#224;i ch#237;nh to#224;n cầu biến động, Việt Nam vẫn l#224; điểm đến hấp dẫn của d#242;ng vốn quốc tế. Tuy nhi#234;n, b#224;i to#225;n đặt ra trong giai đoạn mới kh#244;ng c#242;n đơn thuần l#224; tăng quy m#244; FDI, m#224; l#224; n#226;ng chất lượng d#242;ng vốn, tăng cường li#234;n kết với doanh nghiệp nội địa v#224; mở rộng khả năng kết nối với c#225;c nguồn lực t#224;i ch#237;nh to#224;n cầu.
Trao đổi với Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, #244;ng Đinh Đức Quang, Gi#225;m đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ng#226;n h#224;ng UOB Việt Nam, cho rằng Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế trong thu h#250;t FDI. Tuy nhi#234;n, để duy tr#236; sức hấp dẫn trong giai đoạn tới, trọng t#226;m kh#244;ng c#242;n chỉ l#224; gia tăng quy m#244; vốn đầu tư m#224; cần hướng tới n#226;ng cao chất lượng d#242;ng vốn, tăng cường li#234;n kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, đồng thời mở rộng khả năng kết nối với c#225;c nguồn vốn quốc tế.</description><pubDate>Wed, 20 May 2026 01:30:08 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/nang-chat-dong-von-dau-tu-tao-dong-luc-cho-giai-doan-tang-truong-moi.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/nang-chat-dong-von-dau-tu-tao-dong-luc-cho-giai-doan-tang-truong-moi.htm</guid><atom:link href="/nang-chat-dong-von-dau-tu-tao-dong-luc-cho-giai-doan-tang-truong-moi.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/bae8e827facf4d76a5a6497e89ed6227-91035.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Giữa bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư ngày càng khốc liệt và môi trường tài chính toàn cầu biến động, Việt Nam vẫn là điểm đến hấp dẫn của dòng vốn quốc tế. Tuy nhiên, bài toán đặt ra trong giai đoạn mới không còn đơn thuần là tăng quy mô FDI, mà là nâng chất lượng dòng vốn, tăng cường liên kết với doanh nghiệp nội địa và mở rộng khả năng kết nối với các nguồn lực tài chính toàn cầu.
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam, cho rằng Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế trong thu hút FDI. Tuy nhiên, để duy trì sức hấp dẫn trong giai đoạn tới, trọng tâm không còn chỉ là gia tăng quy mô vốn đầu tư mà cần hướng tới nâng cao chất lượng dòng vốn, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước, đồng thời mở rộng khả năng kết nối với các nguồn vốn quốc tế.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="91027" data-aos="flip-left" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/129f003641234dcdbc1885d7debcf7fc-91027.png" alt="Nâng chất dòng vốn đầu tư, tạo động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91028" data-aos="flip-left" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/faef9ccb2df3467b8901ce610c9e5cbd-91028.png" alt="Nâng chất dòng vốn đầu tư, tạo động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Theo ông, đâu là lợi thế lớn nhất giúp Việt Nam duy trì sức hút đối với
dòng vốn FDI trong bối cảnh cạnh tranh thu hút đầu tư giữa các quốc gia ngày
càng gay gắt?</i></b></p>
<p class="text-justify">Trong nhóm các nền kinh tế đang phát triển, Việt Nam hiện sở
hữu nhiều lợi thế đáng chú ý và vẫn duy trì vị thế tích cực trong thu hút đầu
tư nước ngoài.</p>
<p class="text-justify">Dù khó có thể so sánh trực tiếp với các thị trường quy mô lớn
như Mỹ, châu Âu, Hàn Quốc hay Singapore, song trong nhóm các nền kinh tế mới nổi,
Việt Nam đang nổi lên như một điểm đến hấp dẫn. Riêng tại ASEAN, khu vực đang
thu hút mạnh dòng vốn đầu tư toàn cầu, Việt Nam hiện thuộc nhóm quốc gia dẫn đầu
về sức hút FDI.</p>
<p class="text-justify">Theo đánh giá của UOB, yếu tố quan trọng hơn nằm ở niềm tin
mà Việt Nam đang tạo dựng với cộng đồng đầu tư quốc tế. Bên cạnh môi trường
chính trị ổn định, Việt Nam đã duy trì được nhiều nền tảng hỗ trợ nhà đầu tư
như lực lượng lao động, môi trường đầu tư và các chính sách ưu đãi trong nhiều
năm qua.</p>
<p class="text-justify">Đáng chú ý, việc thường xuyên tổ chức các diễn đàn đối thoại
với cộng đồng doanh nghiệp cũng cho thấy nỗ lực cải thiện môi trường đầu tư
theo hướng chủ động và cầu thị hơn. Điều này phản ánh Việt Nam không chỉ dựa
vào những lợi thế sẵn có mà đang tiếp tục điều chỉnh để nâng cao năng lực cạnh
tranh.</p>
<p class="text-justify">Điều gây ấn tượng tại các phiên thảo luận với cộng đồng
doanh nghiệp FDI là quyết tâm đổi mới của Chính phủ trong việc đồng hành cùng
nhà đầu tư, không chỉ với các doanh nghiệp đang hoạt động tại Việt Nam mà cả
các dòng vốn mới trong thời gian tới.</p>
<p class="text-justify">Nếu trước đây việc thu hút FDI có thể ưu tiên yếu tố số lượng,
thì hiện nay định hướng đã rõ ràng hơn theo hướng lựa chọn dòng vốn chất lượng,
phù hợp với mục tiêu tăng trưởng cao và phát triển bền vững trong giai đoạn mới.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91029" data-aos="flip-left" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/ccfd3f931bf54015bf473fed17357b5c-91029.png" alt="Nâng chất dòng vốn đầu tư, tạo động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước được xem là yếu
tố quan trọng để nâng cao giá trị gia tăng và năng lực tham gia chuỗi cung ứng.
Theo ông, đâu là rào cản lớn nhất khiến doanh nghiệp Việt Nam chưa kết nối hiệu
quả với khu vực FDI? Doanh nghiệp trong nước cần làm gì để bắt nhịp tốt hơn với
các tiêu chuẩn và yêu cầu của khối này?</i></b></p>
<p class="text-justify">Doanh nghiệp FDI thường đã hoạt động tại nhiều thị trường và
có mức độ tiếp cận cao với các tiêu chuẩn quốc tế về quản trị tài chính, kế hoạch
sản xuất kinh doanh, chất lượng sản phẩm cũng như năng lực thị trường.</p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, giữa doanh nghiệp trong nước và khu vực FDI vẫn
tồn tại khoảng cách nhất định về tiêu chuẩn quản trị và phương thức vận hành hiện
đại. Một số tập đoàn lớn của Việt Nam đã có bước phát triển đáng ghi nhận và từng
bước tiếp cận các chuẩn mực quốc tế. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa,
đặc biệt là các đơn vị phát triển từ mô hình hộ kinh doanh, vẫn còn hạn chế về
công nghệ quản lý, quản trị sản xuất và quản trị tài chính.</p>
<p class="text-justify">Hiện nay, ngân hàng đang triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ
theo từng nhóm doanh nghiệp. Với các tập đoàn lớn, UOB không chỉ cung cấp nguồn
vốn trong nước mà còn đồng hành cùng doanh nghiệp trong việc tiếp cận thị trường
vốn quốc tế và kết nối với các nhà đầu tư nước ngoài. Các nguồn tài trợ này
không chỉ phục vụ nhu cầu ngắn hạn mà còn hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn
dài hạn cho các kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh.</p>
<p class="text-justify">Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, việc tham gia sâu hơn vào
chuỗi cung ứng được xem là cơ hội quan trọng để nâng cao năng lực cạnh tranh.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91030" data-aos="flip-left" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/32549d8bc3844aa281681ef014014305-91030.png" alt="Nâng chất dòng vốn đầu tư, tạo động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>UOB đang đồng hành với doanh nghiệp FDI tại Việt Nam theo hướng nào? Lợi
thế nào giúp ngân hàng xây dựng các giải pháp tài chính phù hợp với nhóm khách
hàng này?</i></b></p>
<p class="text-justify">Doanh nghiệp FDI luôn là nhóm khách hàng trọng tâm mà UOB
mong muốn đồng hành và hỗ trợ. Lợi thế của ngân hàng đến từ mạng lưới hoạt động
rộng khắp tại nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới.</p>
<p class="text-justify">Ví dụ, với một doanh nghiệp Singapore đầu tư vào Việt Nam hoặc
mở rộng hoạt động sang các quốc gia khác trong ASEAN, UOB có thể tận dụng sự kết
nối trong toàn hệ thống để hỗ trợ xuyên suốt tại các thị trường mà doanh nghiệp
hiện diện.</p>
<p class="text-justify">Khi đã hiểu rõ khách hàng, bao gồm nhu cầu tài chính, kế hoạch
kinh doanh và hạn mức tín dụng ở cấp tập đoàn, ngân hàng có thể phân bổ nguồn lực
phù hợp tại từng quốc gia để tiếp tục phục vụ doanh nghiệp. Đây cũng là cách
UOB kết nối nguồn lực trong toàn hệ thống nhằm nâng cao hiệu quả hỗ trợ đối với
khối doanh nghiệp FDI.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, nhờ có mối quan hệ và dữ liệu xuyên suốt với
các doanh nghiệp FDI tại nhiều thị trường, UOB có điều kiện tiếp cận báo cáo
tài chính, kế hoạch kinh doanh và thông tin vận hành của doanh nghiệp ở quy mô
tổng thể. Đây được xem là lợi thế giúp ngân hàng rút ngắn đáng kể quy trình thẩm
định.</p>
<p class="text-justify">Đối với các doanh nghiệp thuộc nhóm ưu tiên hoặc có dòng tiền
được quản lý hiệu quả, ngân hàng sẽ xây dựng các gói sản phẩm phù hợp, bao gồm
chính sách lãi suất, phí và các giải pháp tài chính đáp ứng nhu cầu riêng của từng
doanh nghiệp.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91031" data-aos="flip-left" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/4ecaafe975794b4eb4a1bd8f6638f8bb-91031.png" alt="Nâng chất dòng vốn đầu tư, tạo động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>FDI thường vận hành theo chuỗi, không chỉ trong hệ sinh thái doanh nghiệp
FDI mà còn liên quan đến các doanh nghiệp xuất khẩu khác. Ngân hàng hiện có
chính sách cho vay theo chuỗi hay không? Đồng thời, doanh nghiệp nhỏ và vừa của
Việt Nam cần đáp ứng những tiêu chuẩn nào để có thể tham gia vào chuỗi tài trợ
này?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đây là một trong những mảng kinh doanh trọng tâm mà chúng
tôi đang tập trung phát triển trong giai đoạn hiện nay. Không chỉ dừng ở việc
cung cấp vốn và dịch vụ ngân hàng cho các doanh nghiệp lớn hay doanh nghiệp sản
xuất, UOB định hướng mở rộng hỗ trợ tới toàn bộ hệ sinh thái doanh nghiệp liên
kết trong chuỗi. Mục tiêu là xây dựng các giải pháp tài chính và dịch vụ ngân
hàng xuyên suốt, đáp ứng nhu cầu của các doanh nghiệp tham gia trong cùng chuỗi
giá trị.</p>
<p class="text-justify">Mô hình này được triển khai trên cơ sở mối liên kết giữa
doanh nghiệp lớn với các đối tác phân phối, đại lý hoặc doanh nghiệp vệ tinh,
trong đó nhiều đơn vị thuộc nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Việt Nam. Khi làm
việc với doanh nghiệp đầu chuỗi, ngân hàng đồng thời tiếp cận các đối tác liên
kết nhằm giới thiệu các giải pháp tài chính phù hợp.</p>
<p class="text-justify">Việc nắm rõ quan hệ kinh doanh giữa các bên trong chuỗi giúp
ngân hàng rút ngắn đáng kể thời gian thẩm định kế hoạch kinh doanh, quản trị
dòng tiền và đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Qua đó, nâng cao khả
năng tiếp cận vốn và mở rộng phạm vi phục vụ đối với toàn bộ chuỗi cung ứng.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91032" data-aos="flip-left" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/866a899629ad40a4adb9b55fcbdb89b3-91032.png" alt="Nâng chất dòng vốn đầu tư, tạo động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Ông đánh giá như thế nào về dư địa thu hút dòng vốn đầu tư gián tiếp nước
ngoài vào Việt Nam, đặc biệt thông qua thị trường trái phiếu? Theo ông, đâu là
những điều kiện và giải pháp cần thiết để thị trường vốn trở thành kênh kết nối
hiệu quả hơn giữa doanh nghiệp trong nước với dòng vốn quốc tế?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đối với dòng vốn đầu tư gián tiếp, dư địa thu hút nhà đầu tư
nước ngoài vào thị trường trái phiếu Việt Nam còn rất lớn, đặc biệt là trái phiếu
chính phủ. Theo số liệu hiện nay, tỷ lệ nắm giữ trái phiếu Chính phủ Việt Nam của
nhà đầu tư nước ngoài mới ở mức khoảng 1-2%, thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc
gia trong khu vực.</p>
<p class="text-justify">Tại Thái Lan, tỷ lệ này vào khoảng 10%, tương đương quy mô nắm
giữ khoảng 20 tỷ USD. Trong khi đó, tại Malaysia và Indonesia, nhà đầu tư nước
ngoài đang nắm giữ khoảng 20-25% lượng trái phiếu chính phủ phát hành, tương
đương khoảng 60-70 tỷ USD. Nếu có các giải pháp cụ thể nhằm thu hút nhà đầu tư
nước ngoài tham gia sâu hơn vào thị trường trái phiếu Chính phủ, đây sẽ là nguồn
lực rất lớn đối với Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng được
đánh giá là dư địa tiềm năng để kết nối doanh nghiệp trong nước với dòng vốn quốc
tế. Tuy nhiên, điều mà nhà đầu tư nước ngoài quan tâm hiện nay là hệ thống hạ tầng
đánh giá rủi ro tín dụng, cơ chế định giá và đường cong lãi suất chuẩn trên thị
trường. Đây được xem là nền tảng quan trọng để các nhà đầu tư xây dựng mô hình
đánh giá rủi ro, định giá tài sản và củng cố niềm tin khi tham gia thị trường
trái phiếu doanh nghiệp Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Kỳ vọng trong thời gian tới, các cơ quan quản lý như Bộ Tài
chính và Ngân hàng Nhà nước sẽ phối hợp cùng các thành viên thị trường để tiếp
tục hoàn thiện hạ tầng định giá, xây dựng đường cong lãi suất chuẩn cho cả thị
trường tiền tệ ngắn hạn và thị trường vốn dài hạn.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91033" data-aos="flip-left" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/c252634b968c4e2491d33feb924e1706-91033.png" alt="Nâng chất dòng vốn đầu tư, tạo động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Trong bối cảnh môi trường tài chính toàn cầu ngày càng biến động và khó
dự báo, doanh nghiệp Việt Nam cần chuẩn bị những gì để nâng cao năng lực quản
trị và tăng khả năng thích ứng trong dài hạn?</i></b></p>
<p class="text-justify">Trước những biến động toàn cầu, doanh nghiệp rất khó có thể
tự tiếp cận đầy đủ thông tin nếu hoạt động riêng lẻ. Vì vậy, việc đồng hành
cùng các định chế tài chính và ngân hàng thương mại đóng vai trò đặc biệt quan
trọng.</p>
<p class="text-justify">Thông qua hệ thống nghiên cứu, phân tích và tư vấn của các tổ
chức tài chính, doanh nghiệp có thể cập nhật nhanh hơn các xu hướng về tỷ giá,
lãi suất, thương mại quốc tế cũng như các biến động kinh tế vĩ mô để kịp thời
đưa ra quyết định phù hợp.</p>
<p class="text-justify">Tại UOB, chúng tôi hỗ trợ doanh nghiệp trong các hoạt động
quản lý ngân quỹ, thương mại xuyên biên giới và kết nối với các dòng vốn trong
khu vực. </p>
<p class="text-justify">Là một doanh nghiệp FDI hoạt động trong lĩnh vực tài chính tại
Việt Nam, chúng tôi cam kết đồng hành dài hạn cùng cộng đồng doanh nghiệp, hỗ
trợ mở rộng kết nối với các dòng vốn quốc tế và góp phần thúc đẩy mục tiêu tăng
trưởng bền vững trong giai đoạn phát triển mới của Việt Nam.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91034" data-aos="flip-left" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/c1c8e8f1de104744977cd8daf131c95e-91034.png" alt="Nâng chất dòng vốn đầu tư, tạo động lực cho giai đoạn tăng trưởng mới - Ảnh 8">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư</title><description>Kh#244;ng c#242;n chỉ được nh#236;n nhận l#224; thị trường lao động chi ph#237; thấp, Việt Nam đang trở th#224;nh đối t#225;c chiến lược trong chuỗi đổi mới c#244;ng nghệ của nhiều tập đo#224;n to#224;n cầu. Với Qualcomm, Việt Nam hiện giữ vị tr#237; trung t#226;m số 1 tại Đ#244;ng Nam #193;. Việc h#227;ng kh#225;nh th#224;nh Trung t#226;m Ramp;D tại H#224; Nội ng#224;y 12/5/2026 được xem l#224; bước đi chiến lược mới, tập trung v#224;o c#225;c lĩnh vực AI, b#225;n dẫn v#224; xe tự h#224;nh, đồng thời mở ra th#234;m nhiều cơ hội cho nguồn nh#226;n lực c#244;ng nghệ trong nước.
Trao đổi với Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS. Trần Mỹ An (An Mei Chen), Ph#243; Chủ tịch Kỹ thuật tại Bộ phận Nghi#234;n cứu AI thuộc Tập đo#224;n Qualcomm cho biết tập đo#224;n đang hướng tới x#226;y dựng một trung t#226;m nghi#234;n cứu v#224; ph#225;t triển (Ramp;D) đạt ti#234;u chuẩn to#224;n cầu ngay tại Việt Nam. B#234;n cạnh mục ti#234;u th#250;c đẩy đổi mới s#225;ng tạo, Trung t#226;m Ramp;D tại H#224; Nội sẽ đ#243;ng vai tr#242; hạt nh#226;n trong việc n#226;ng tầm v#224; củng cố hệ sinh th#225;i c#244;ng nghệ Việt Nam.</description><pubDate>Wed, 20 May 2026 01:29:28 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/qualcomm-xay-trung-tam-rd-chuan-toan-cau-tai-viet-nam-day-manh-tuyen-dung-ky-su.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/qualcomm-xay-trung-tam-rd-chuan-toan-cau-tai-viet-nam-day-manh-tuyen-dung-ky-su.htm</guid><atom:link href="/qualcomm-xay-trung-tam-rd-chuan-toan-cau-tai-viet-nam-day-manh-tuyen-dung-ky-su.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/e2c0069eb7c249cd929643c371aa2be9-91054.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Không còn chỉ được nhìn nhận là thị trường lao động chi phí thấp, Việt Nam đang trở thành đối tác chiến lược trong chuỗi đổi mới công nghệ của nhiều tập đoàn toàn cầu. Với Qualcomm, Việt Nam hiện giữ vị trí trung tâm số 1 tại Đông Nam Á. Việc hãng khánh thành Trung tâm RD tại Hà Nội ngày 12/5/2026 được xem là bước đi chiến lược mới, tập trung vào các lĩnh vực AI, bán dẫn và xe tự hành, đồng thời mở ra thêm nhiều cơ hội cho nguồn nhân lực công nghệ trong nước.
Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS. Trần Mỹ An (An Mei Chen), Phó Chủ tịch Kỹ thuật tại Bộ phận Nghiên cứu AI thuộc Tập đoàn Qualcomm cho biết tập đoàn đang hướng tới xây dựng một trung tâm nghiên cứu và phát triển (RD) đạt tiêu chuẩn toàn cầu ngay tại Việt Nam. Bên cạnh mục tiêu thúc đẩy đổi mới sáng tạo, Trung tâm RD tại Hà Nội sẽ đóng vai trò hạt nhân trong việc nâng tầm và củng cố hệ sinh thái công nghệ Việt Nam.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="91044">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/baf36fa2a1464f5fbab11a990f14176d-91044.png" alt="Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91045" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/df3be2eb5aec4b809532164e9aa85dd2-91045.png" alt="Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Thưa bà, sau khi
thành lập Trung tâm RD về AI đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 6/2025,
Qualcomm tiếp tục mở rộng hiện diện với việc ra mắt thêm Trung tâm RD mới,
tập trung vào các lĩnh vực như vi mạch, công nghệ ôtô và IoT. Đâu là động lực
chính thúc đẩy Qualcomm đẩy nhanh quá trình mở rộng hoạt động nghiên cứu tại Việt
Nam?</i></b></p>
<p class="text-justify">Quan điểm của chúng tôi là xây dựng một nền tảng đủ vững chắc
trước khi bước vào giai đoạn mở rộng quy mô nhanh. Ở giai đoạn đầu, trung tâm sẽ
tập trung vào trí tuệ nhân tạo (AI) và phát triển hệ thống trên chip (SoC), sau
đó từng bước mở rộng sang các lĩnh vực chiến lược như công nghệ ôtô, Internet vạn
vật (IoT) và các công nghệ tiên tiến khác.</p>
<p class="text-justify">Trung tâm tại Việt Nam sẽ góp phần tăng cường mạng lưới
RD toàn cầu của Qualcomm thông qua việc tận dụng nguồn nhân lực công nghệ
đang phát triển rất nhanh tại Việt Nam, đồng thời thúc đẩy hợp tác sâu rộng hơn
với các đối tác trong nước.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi nhận thấy Việt Nam sở hữu lực lượng nhân tài trẻ rất
tiềm năng ở nhiều lĩnh vực. Trong khi đó, bán dẫn hiện là một trong những ưu
tiên lớn của Chính phủ Việt Nam, còn Qualcomm là một trong những doanh nghiệp
hàng đầu thế giới trong lĩnh vực này. Vì vậy, chúng tôi tin Việt Nam hoàn toàn
có khả năng tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển các nền tảng công nghệ
cao, thay vì chỉ đảm nhận vai trò hỗ trợ.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, Việt Nam có rất nhiều kỹ sư phần mềm trẻ, giàu
tham vọng, chăm chỉ và sáng tạo. Chúng tôi muốn xây dựng đội ngũ kỹ sư tại đây
và tích hợp họ vào mạng lưới toàn cầu của Qualcomm để cùng giải quyết những bài
toán công nghệ phức tạp nhất.</p>
<p class="text-justify">Cam kết của Qualcomm với Việt Nam là dài hạn. Vì vậy, chúng
tôi đang tích cực tuyển dụng trong các mảng thiết kế chip và phát triển phần mềm.
Mục tiêu rất đơn giản: tuyển dụng được càng nhiều kỹ sư giỏi càng tốt.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91046" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/012283038f144c9a9bf6bbf7bc999ec4-91046.png" alt="Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Theo bà, việc
Qualcomm chuyển trọng tâm từ gia công sang nghiên cứu và phát triển (RD) tại
Việt Nam phản ánh điều gì về vai trò mới của thị trường này trong chuỗi giá trị
toàn cầu của tập đoàn? Việt Nam hiện đã được nhìn nhận như một đối tác chiến lược
thay vì chỉ là điểm đến có lợi thế về chi phí lao động?</i></b></p>
<p class="text-justify">Trước hết, tôi muốn khẳng định Việt Nam hiện là thị trường
trọng tâm số 1 của Qualcomm tại Đông Nam Á. Một trong những lý do quan trọng là
hệ sinh thái công nghệ tại Việt Nam đang phát triển rất nhanh, đặc biệt dưới
tác động của chương trình “Make in Vietnam” do Chính phủ thúc đẩy. Điều này rất
phù hợp với mô hình của Qualcomm, vốn tập trung cung cấp các nền tảng công nghệ
cốt lõi để doanh nghiệp địa phương phát triển sản phẩm.</p>
<p class="text-justify">Việc Qualcomm thành lập trung tâm RD và mở rộng hoạt động
nghiên cứu tại Việt Nam không xuất phát từ lợi thế chi phí lao động thấp. Hiện
nay, các kỹ sư Việt Nam đã tham gia trực tiếp vào những dự án công nghệ tiên tiến
nhất của Qualcomm trên toàn cầu, từ AI đến thiết kế chip thế hệ mới. Điều đó phản
ánh năng lực thực chất của nguồn nhân lực công nghệ Việt Nam, chứ không đơn thuần
là lợi thế về chi phí.</p>
<p class="text-justify">Nếu chỉ tìm kiếm lao động giá rẻ, chúng tôi sẽ không thể thu
hút được những nhân sự hàng đầu. Đối với các công nghệ mới, đặc biệt là những
công nghệ tiên phong trên thế giới, Qualcomm cần những kỹ sư giỏi nhất và sẵn
sàng trả mức đãi ngộ tương xứng để thu hút họ.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91047" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/45cdb577e2384450b96ba3a5502603c9-91047.png" alt="Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Trong quá trình mở
rộng Trung tâm RD tại Hà Nội, Qualcomm có gặp khó khăn hay thách thức nào
trong việc tuyển dụng đội ngũ kỹ sư chất lượng cao hay không?</i></b></p>
<p class="text-justify">Thách thức lớn nhất hiện nay của chúng tôi là tốc độ tuyển dụng
vẫn chưa theo kịp nhu cầu mở rộng hoạt động. Trong các lĩnh vực như AI, thiết kế
chip hay các công nghệ tiên tiến, Việt Nam có nguồn nhân lực chất lượng tốt,
nhưng quy mô vẫn chưa đủ để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.</p>
<p class="text-justify">Qualcomm cũng đang phối hợp với Chính phủ và các đối tác
liên quan để tìm kiếm thêm những cơ chế, chính sách hỗ trợ nhằm thúc đẩy nhanh
hơn quá trình mở rộng hoạt động nghiên cứu và phát triển tại Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Hiện chúng tôi đang có rất nhiều vị trí tuyển dụng mở. Mục
tiêu của Qualcomm là xây dựng tại Việt Nam một trung tâm RD đạt đẳng cấp
thế giới. Một tín hiệu tích cực là ngày càng nhiều du học sinh Việt Nam tại Mỹ
và các quốc gia khác lựa chọn trở về nước làm việc, qua đó đóng góp trực tiếp
cho sự phát triển của ngành công nghệ trong nước.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91048" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/7ab23957b4b34b61aeb2d16e558a0752-91048.png" alt="Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Trong bối cảnh trí
tuệ nhân tạo (AI) phát triển bùng nổ trên toàn cầu, xu hướng này đang tác động
như thế nào đến chiến lược tuyển dụng cũng như yêu cầu của Qualcomm đối với đội
ngũ kỹ sư tại Việt Nam?</i></b></p>
<p class="text-justify">AI đang hỗ trợ công việc rất mạnh mẽ. Trước đây, một số tác
vụ như viết mã lập trình có thể mất từ 3-5 ngày, nhưng với các công cụ AI hiện
nay, thời gian thực hiện có thể rút xuống chỉ còn khoảng 30 phút. Vì vậy,
Qualcomm cũng sẽ tích hợp AI vào nhiều quy trình làm việc, không chỉ trong kỹ
thuật mà cả các hoạt động như tóm tắt cuộc họp hay hỗ trợ vận hành, nhằm nâng
cao hiệu suất tổng thể.</p>
<p class="text-justify">Nhiều người lo ngại AI sẽ thay thế việc làm của con người,
nhưng tôi không nghĩ vậy. Lịch sử các cuộc cách mạng công nghiệp cho thấy mỗi
giai đoạn chuyển đổi công nghệ đều kéo theo sự dịch chuyển về công việc. Khi
máy móc xuất hiện, con người sẽ chuyển sang đảm nhận những vai trò mới có giá
trị cao hơn.</p>
<p class="text-justify">Về tuyển dụng, Qualcomm không tìm kiếm những người chỉ giỏi
một kỹ năng cố định. Điều chúng tôi ưu tiên là khả năng học hỏi liên tục và
thích nghi nhanh với công nghệ mới. Trong bối cảnh công nghệ thay đổi từng
ngày, kiến thức hôm nay có thể nhanh chóng trở nên lỗi thời nếu không liên tục
cập nhật. Vì vậy, Qualcomm cũng triển khai nhiều chương trình hỗ trợ kỹ sư học
tập và tiếp cận các công nghệ mới nhất.</p>
<p class="text-justify">Điểm mạnh nổi bật của kỹ sư Việt Nam là khả năng học nhanh,
tự học và thích ứng linh hoạt. Nhờ nền tảng toán học khá tốt từ hệ thống giáo dục
phổ thông, nhiều kỹ sư có thể chuyển đổi sang các lĩnh vực công nghệ mới với tốc
độ cao và hiệu quả. Đây được xem là một lợi thế cạnh tranh đáng chú ý của nguồn
nhân lực công nghệ Việt Nam so với nhiều thị trường khác.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91049" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/b314efb5d1a94d4bba15d7217982f789-91049.png" alt="Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Với việc đưa Trung
tâm RD vào vận hành, Qualcomm kỳ vọng kỹ sư Việt Nam sẽ đảm nhận vai trò
như thế nào trong chuỗi đổi mới sáng tạo toàn cầu của tập đoàn? Trong tương
lai, đội ngũ tại Việt Nam có thể đóng góp những công nghệ, sáng chế hay giải
pháp đột phá nào cho Qualcomm?</i></b></p>
<p class="text-justify">Qualcomm là một tập đoàn toàn cầu và sức mạnh cốt lõi của
chúng tôi đến từ sự đa dạng về góc nhìn và tư duy công nghệ ở nhiều khu vực
khác nhau trên thế giới. Vì vậy, mỗi khi mở một trung tâm RD mới, chúng
tôi đều kỳ vọng đội ngũ tại địa phương sẽ mang đến những cách tiếp cận và góc
nhìn riêng biệt. Việt Nam cũng không ngoại lệ.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi tin rằng Việt Nam sở hữu nhiều góc nhìn thực tiễn
mà có thể các đồng nghiệp tại Mỹ, Canada hay châu Âu chưa từng trải nghiệm.
Chính từ những khác biệt đó, các ý tưởng sáng tạo mới có thể hình thành và sau
đó được tích hợp trực tiếp vào các nền tảng công nghệ cốt lõi của Qualcomm.</p>
<p class="text-justify">Đó cũng là lý do Qualcomm luôn đầu tư mạnh vào mạng lưới
nhân sự toàn cầu. Cá nhân tôi mỗi ngày đều phải tham gia các cuộc họp xuyên
biên giới với các nhóm tại San Diego, châu Âu, Hàn Quốc hay Trung Quốc. Dù cường
độ phối hợp rất lớn, nhưng chính sự cộng tác đa dạng đó lại là nền tảng thúc đẩy
đổi mới sáng tạo.</p>
<p class="text-justify">Tôi tin rằng nếu đội ngũ kỹ sư tại Việt Nam phát triển được
những trường hợp ứng dụng (use case) mới hoặc những giải pháp công nghệ có giá
trị, Qualcomm hoàn toàn có thể tích hợp các sáng kiến đó vào hệ sinh thái công
nghệ của tập đoàn và triển khai trên quy mô toàn cầu.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91050" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/875cc09e3bb34dff860d034f23e48355-91050.png" alt="Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Hiện nay, Việt Nam
vẫn được cho là đang thiếu đội ngũ “tổng công trình sư” hay các kiến trúc sư
công nghệ cấp cao trong những lĩnh vực chiến lược, trong khi nguyên nhân thường
được nhắc tới là chế độ đãi ngộ và môi trường nghiên cứu. Theo bà, Việt Nam cần
làm gì để giải quyết bài toán này? Các trung tâm RD quốc tế như Qualcomm
có thể đóng vai trò như thế nào trong việc thu hẹp khoảng trống nhân lực chất
lượng cao?</i></b></p>
<p class="text-justify">Thực tế, Việt Nam đang sở hữu nguồn nhân lực công nghệ rất
tiềm năng. Tuy nhiên, điều còn thiếu là cơ hội để những tài năng này được đào tạo,
cọ xát và phát triển trong một hệ sinh thái công nghệ mang tầm vóc toàn cầu.</p>
<p class="text-justify">Để góp phần thu hẹp khoảng trống đó, Qualcomm đã triển khai
nhiều chương trình mentorship bài bản. Chúng tôi chủ động tìm kiếm những nhân sự
tiềm năng và kết nối họ với các chuyên gia giàu kinh nghiệm nhằm hỗ trợ cả về
chuyên môn sâu lẫn kỹ năng làm việc trong môi trường quốc tế.</p>
<p class="text-justify">Tất nhiên, sẽ không thực tế nếu kỳ vọng các “tổng công trình
sư” hay kiến trúc sư công nghệ hàng đầu có thể xuất hiện trong thời gian ngắn.
Đây là một quá trình cần đầu tư lâu dài. Qualcomm sẵn sàng đồng hành với quá
trình đó thông qua việc xây dựng môi trường làm việc, đào tạo và phát triển
nhân lực công nghệ chất lượng cao tại Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Một tín hiệu tích cực mà chúng tôi quan sát được là ngày
càng nhiều chuyên gia công nghệ, bao gồm cả nhân sự trong nước và các Việt kiều
đang làm việc ở nước ngoài, có xu hướng quay trở về Việt Nam. Họ mong muốn vừa
đóng góp cho doanh nghiệp, vừa tham gia vào sự phát triển của ngành công nghệ
trong nước. Đây là một tín hiệu rất đáng chú ý đối với tương lai công nghệ của
Việt Nam.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91051">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/8acea8757460470286be51dcbdf4d49e-91051.png" alt="Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91052" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/72f0c2a288e84bbbb57e55c44ce0ade1-91052.png" alt="Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Hỗ trợ các công ty công nghệ Việt Nam tiếp cận công nghệ mới
của Qualcomm để từ đó thiết kế, sản xuất thiết bị và xây dựng các giải pháp cho
cả thị trường trong nước lẫn quốc tế luôn là một trong những trọng tâm của
Qualcomm tại Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Hiện nay, Qualcomm đang làm việc với hầu hết các doanh nghiệp
công nghệ lớn tại Việt Nam. Chẳng hạn, Qualcomm và Viettel đã hợp tác phát triển
các giải pháp 5G Open RAN, qua đó giúp Viettel thương mại hóa mạng 5G Open RAN
và triển khai hàng nghìn trạm 5G trên toàn quốc. Hợp tác giữa hai bên hiện cũng
mở rộng sang các lĩnh vực mới như robot, AI camera và các thiết bị AI cá nhân.</p>
<p class="text-justify">Với VNPT, Qualcomm đã cùng ra mắt VNPT-Qualcomm Excellence
Center, tập trung phát triển các thiết bị kết nối như Wi-Fi, AI Box và laptop
AI tích hợp mô hình ngôn ngữ lớn (LLM) dành cho thị trường Việt Nam. Trong lĩnh
vực ôtô, Qualcomm cũng đang hợp tác với VinFast, đồng thời nhiều doanh nghiệp
khác tại Việt Nam đang phát triển các module IoT trên nền tảng chip của
Qualcomm.</p>
<p class="text-justify">Việc mở rộng trung tâm RD tại Việt Nam giúp Qualcomm hỗ
trợ các đối tác trong nước hiệu quả hơn. Khi triển khai các dự án với Viettel,
VNPT hay các tập đoàn công nghệ khác, Qualcomm cần đội ngũ kỹ sư nghiên cứu
phát triển làm việc trực tiếp tại Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Trong thời gian tới, đội ngũ RD của Qualcomm tại Việt
Nam sẽ phối hợp trực tiếp với các đối tác như Viettel, VNPT và VinFast để đưa
các mô hình AI của Việt Nam lên nền tảng chipset Qualcomm, tối ưu AI model trên
thiết bị và rút ngắn thời gian đưa sản phẩm ra thị trường.</p>
<p class="text-justify">Ngoài ra, tôi được biết Việt Nam đã ban hành danh mục 10
công nghệ chiến lược. Danh mục này rất phù hợp với thế mạnh của Việt Nam, bám
sát xu hướng phát triển công nghệ toàn cầu, đồng thời phù hợp với chiến lược của
Qualcomm. Những lĩnh vực như AI, 5G/6G hay Open RAN đều nằm trong danh mục này.</p>
<p class="text-justify">Theo tôi, cơ hội để Việt Nam hiện thực hóa các công nghệ chiến
lược là rất lớn. Tuy nhiên, thị trường công nghệ hiện nay mang tính toàn cầu.
Các doanh nghiệp Việt Nam sau khi thành công ở thị trường trong nước cần hướng
tới thị trường quốc tế. Đây cũng là lĩnh vực Qualcomm có thể hỗ trợ mạnh nhất
nhờ hệ sinh thái công nghệ và mạng lưới đối tác toàn cầu rộng lớn, qua đó giúp
kết nối doanh nghiệp Việt Nam với thị trường thế giới”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="91053">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/19/89a14c24685a40a49238089884c37c58-91053.png" alt="Qualcomm xây trung tâm RD chuẩn toàn cầu tại Việt Nam, đẩy mạnh tuyển dụng kỹ sư - Ảnh 10">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Giải pháp đột phá để cộng hưởng sức mạnh FDI và nội lực </title><description>Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam xin tr#237;ch lược #253; kiến ph#225;t biểu của TS.Nguyễn Đức Hiển, Ph#243; Trưởng Ban Ch#237;nh s#225;ch, chiến lược Trung ương tại Diễn đ#224;n “Nhịp cầu ph#225;t triển Việt Nam 2026: Kinh tế c#243; vốn đầu tư nước ngo#224;i v#224; kinh tế trong nước hợp lực tạo sức bật tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới”, dưới sự chỉ đạo nội dung của Ban Ch#237;nh s#225;ch, chiến lược Trung ương, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam v#224; Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, chủ tr#236; tổ chức mới đ#226;y.</description><pubDate>Tue, 19 May 2026 08:24:32 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/giai-phap-dot-pha-de-cong-huong-suc-manh-fdi-va-noi-luc.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/giai-phap-dot-pha-de-cong-huong-suc-manh-fdi-va-noi-luc.htm</guid><atom:link href="/giai-phap-dot-pha-de-cong-huong-suc-manh-fdi-va-noi-luc.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/5195af7748844145a89f37b6b35b1e8c-90675.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Tạp chí Kinh tế Việt Nam xin trích lược ý kiến phát biểu của TS.Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, chiến lược Trung ương tại Diễn đàn “Nhịp cầu phát triển Việt Nam 2026: Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế trong nước hợp lực tạo sức bật tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới”, dưới sự chỉ đạo nội dung của Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, chủ trì tổ chức mới đây.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="90666">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/cbf78aa476a8407882c3f1520e553402-90666.png" alt="Giải pháp đột phá để cộng hưởng sức mạnh FDI và nội lực  - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90667" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/ad21897f5877435197dfbbd699dceac6-90667.png" alt="Giải pháp đột phá để cộng hưởng sức mạnh FDI và nội lực  - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify">Để thích ứng với bối cảnh mới, cách tiếp cận và tư duy cũ đối
với khu vực FDI cần một cuộc cách mạng thay đổi căn bản. Thay vì chỉ tập trung
vào khái niệm “thu hút đầu tư trực tiếp” thuần túy, chúng ta cần xem FDI là một
cấu phần hữu cơ không thể tách rời của mô hình tăng trưởng. Sự chuyển dịch này
đòi hỏi một lộ trình thay đổi toàn diện, từ chính sách thu hút vốn, chiến lược
phát triển công nghiệp, hạ tầng cho đến việc xây dựng hệ sinh thái bền vững. </p>
<p class="text-justify">Chúng ta không chỉ coi doanh nghiệp nước ngoài là nguồn vốn
quan trọng, mà phải xem họ là chủ thể trọng yếu giúp nâng tầm năng lực quốc gia
và sức mạnh ngành nghề. Mục tiêu cao nhất là xây dựng một nền kinh tế độc lập,
tự cường, tự chủ chiến lược nhưng vẫn gắn kết mật thiết với dòng chảy hội nhập
quốc tế. </p>
<p class="text-justify">Để đạt được mục tiêu tăng trưởng hai con trong giai đoạn
2026-2030, Việt Nam đang đối diện với nhu cầu vốn khổng lồ, tổng lượng vốn cần
huy động ước tính lên tới 38,5 triệu tỷ đồng. Trong khi khu vực Nhà nước dự kiến
đóng góp khoảng 8,3 - 8,5 triệu tỷ đồng, thì phần lớn nguồn lực còn lại (hơn 30
triệu tỷ đồng) phải được khơi thông từ khu vực tư nhân, các quỹ đầu tư và doanh
nghiệp nước ngoài. </p>
<p class="text-justify">Do đó, nhiệm vụ hàng đầu là hoàn thiện thể chế để đón đầu
làn sóng FDI thế hệ mới. Điểm đột phá trong định hướng này là không chỉ chú trọng
vốn đầu tư trực tiếp mà còn phải đặc biệt quan tâm đến dòng vốn gián tiếp
(FII). Đây là nhiệm vụ trọng tâm khi Nghị quyết mới của Bộ Chính trị về kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài sắp được ban hành với phạm vi bao quát rộng lớn hơn.
Việc thu hút FDI giờ đây không chỉ là câu chuyện số lượng, mà là chất lượng và
khả năng lan tỏa giá trị. Việt Nam cần những cải cách đột phá, từ môi trường
kinh doanh đến các cơ chế thử nghiệm (sandbox) để tối ưu hóa hiệu quả đầu tư. </p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90669" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/1c1274e6bd0f40e3872a36eab166dc01-90669.png" alt="Giải pháp đột phá để cộng hưởng sức mạnh FDI và nội lực  - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">Để thu hút được FDI thế hệ mới và thúc đẩy liên kết giữa khu
vực kinh tế FDI và khu vực kinh tế trong nước, Việt Nam phải đổi mới căn bản tư
duy, tầm nhìn, mục tiêu thúc đẩy. Chiến lược mới của Việt Nam được định hình
qua bốn từ “khóa vàng”.</p>
<p class="text-justify"><i>Từ khóa thứ nhất: Tính
tổng thể.</i> Thu hút FDI trước đây thường nhấn mạnh từ “thu hút đầu tư trực tiếp
nước ngoài”, thì nay phải coi FDI là một cấu phần của mô hình tăng trưởng, mô
hình phát triển của Việt Nam. Chúng ta phải thay đổi tổng thể lại các chính
sách: từ chính sách thu hút FDI, chính sách phát triển các ngành công nghiệp,
chính sách phát triển hạ tầng cũng như tạo dựng hệ sinh thái. Điều này vô cùng
quan trọng. </p>
<p class="text-justify">Thay vì những báo cáo địa phương chỉ tập trung vào con số tỷ
USD vốn thực hiện một cách rời rạc, cần phải coi FDI là một phần của mô hình
tăng trưởng quốc gia. Chính sách phải có tính liên kết từ thu hút đầu tư, phát
triển công nghiệp đến hạ tầng và hệ sinh thái. Tôi khẳng định không có sự mâu
thuẫn giữa các Nghị quyết như: Nghị quyết số 10-NQ/TW (năm 2017), Nghị quyết số
68-NQ/TW về phát triên kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 12-NQ/TW về đổi mới sắp xếp
doanh nghiệp nhà nước và Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước,
Nghị quyết số 50-NQ/TW về FDI (năm 2019). Sắp tới có Nghị quyết mới về kinh tế
có vốn đầu tư nước ngoài rộng hơn, trước đây chỉ là thể chế, chính sách thu hút
đầu tư trực tiếp nước ngoài thì giờ là cả FII (đầu tư gián tiếp nước ngoài) và
FDI,… tất cả phải được nhìn trong một chỉnh thể thống nhất. </p>
<p class="text-justify">Chúng ta phải nhìn các chính sách này trong tổng thể để phân
định rõ vai trò doanh nghiệp nhà nước là then chốt trong lĩnh vực quốc phòng an
ninh – những lĩnh vực tư nhân không làm được. Chúng ta cũng không coi doanh
nghiệp nước ngoài là nguồn vốn quan trọng mà phải là chủ thể giúp nâng cao năng
lực quốc gia và các ngành nghề.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90670" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/b4604e6b758542a2bb82e743ec31a335-90670.png" alt="Giải pháp đột phá để cộng hưởng sức mạnh FDI và nội lực  - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><i>Từ khóa thứ hai: Hệ
sinh thái.</i> Cách tiếp cận này bao hàm từ chính sách ưu đãi, hạ tầng đến tư
duy quản lý. Ứng xử của bộ máy công quyền phải chuyển từ “quản lý” sang “thúc đẩy”
tạo điều kiện cho các chủ thể này phát triển. Hệ sinh thái cũng đồng nghĩa với
việc không chỉ mải mê tìm kiếm dự án mới mà phải chú trọng nuôi dưỡng, nâng cấp
các doanh nghiệp FDI hiện hữu để họ tốt hơn, đầy đủ hơn bên cạnh cái mới. Trong
đó, nội địa hóa không chỉ là tỷ lệ phần trăm, mà là doanh nghiệp Việt làm được
gì và tham gia sâu đến đâu vào chuỗi giá trị. </p>
<p class="text-justify"><i>Từ khóa thứ ba: Đồng
kiến tạo.</i> Thu hút FDI không chỉ để lấy vốn hay giải quyết việc làm (điều
chúng ta hay nhấn mạnh trước đây), mà phải đóng vai trò chuyển giao quản trị,
nâng cao năng lực nền kinh tế và vị thế của Việt Nam trên bản đồ toàn cầu. </p>
<p class="text-justify"><i>Từ khóa thứ tư: Toàn cầu.</i>
Các liên kết không nên chỉ giới hạn ở thị trường 100 triệu dân trong nước, mà
phải hướng ra biển lớn để khai thác giá trị gia tăng từ thị trường quốc tế.</p>
<p class="text-justify">

Để thực hiện triết lý trên, đòi hỏi các chính
sách trong thời gian tới phải được triển khai đồng bộ. Nghị quyết mới về khu vực
kinh tế đầu tư nước ngoài sắp ban hành (đã lấy ý kiến lãnh đạo và đang hoàn thiện
để đạt yêu cầu tốt hơn), tuy nhiên, sau Nghị quyết phải có các chính sách chuyên
ngành song hành trên mọi lĩnh vực.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90671" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/c188089343474b7cb1c27e1cb4d6e90b-90671.png" alt="Giải pháp đột phá để cộng hưởng sức mạnh FDI và nội lực  - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">Đối với các chính sách chung, cần đổi mới đồng bộ một loạt
chính sách về đất đai, đầu tư, quy hoạch, xây dựng, thuế, dữ liệu, trí tuệ nhân
tạo (AI), khoa học và công nghệ, tài chính. Đặc biệt về đất đai, Quốc hội sẽ sửa
đổi toàn diện trong kỳ họp cuối năm 2026, như: thời hạn cho thuê, phân tầng
phân loại và giá cả, thủ tục nhanh chóng,… đây là yêu cầu cấp bách phải sửa.</p>
<p class="text-justify">Về sandbox, cần mạnh dạn hơn trong các khuôn khổ thử nghiệm ở
các lĩnh vực mới và cần thay đổi tư duy tiếp cận. Hiện nay chúng ta đang tiếp cận
theo kiểu từng ngành phát sinh riêng lẻ rồi trình và xây dựng sandbox, dẫn đến
thời gian chờ đợi rất lâu (như sandbox trong lĩnh vực ngân hàng mất hơn 3 năm).</p>
<p class="text-justify">Ở góc độ ngành, Bộ Công Thương đang được chỉ đạo xây dựng một
loạt các chính sách phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa, ví dụ
như Luật Công nghiệp trọng điểm; rà soát lại toàn bộ chiến lược phát triển công
nghiệp để phù hợp yêu cầu mới, triển khai các chương trình Go Global; cải thiện
chi phí logistics (hiện đang chiếm khoảng 18% - mức rất cao).</p>
<p class="text-justify">Các lĩnh vực tài chính, ngân hàng, tiền tệ cũng phải có thay
đổi về cơ chế chính sách, tái cơ cấu hệ thống, các gói hỗ trợ ngành ưu tiên.
Lĩnh vực năng lượng cần chính sách đột phá cho điện gió ngoài khơi, năng lượng
tái tạo. Phải thực hiện quyết liệt quy hoạch không gian biển và các nghị định
liên quan.</p>
<p class="text-justify">Cơ chế cho ngân sách địa phương để hỗ trợ doanh nghiệp cần
được cải cách. Nhiều địa phương có tiền nhưng không làm được gì. Lấy ví dụ như
Cà Mau, tiền từ bán xổ số 2.200 tỷ đồng, nhưng không được dùng tiền này để hỗ
trợ chi phí đào tạo cho doanh nghiệp. </p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90672" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/59bd8cdcd65341bd99f81476f98cb75b-90672.png" alt="Giải pháp đột phá để cộng hưởng sức mạnh FDI và nội lực  - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, cần thực hiện tổng rà soát việc ưu đãi đầu tư.
Thu hút FDI theo từng ngành và lĩnh vực cụ thể cần phải thực hiện tổng rà soát
và cải tiến mạnh mẽ. Nếu không rà soát, hiện nay đang ưu đãi tràn lan tới 78%
các phân ngành công nghiệp chế tạo cấp 2. Điều này cần phải được tập trung thu
hẹp lại, cần xác định rõ địa bàn, loại hình doanh nghiệp ưu tiên. Thay vì chỉ tập
trung ưu đãi thuế (đầu vào) như trước đây, cần chuyển sang các hình thức ưu đãi
dựa trên kết quả đầu ra và gắn với các cam kết cụ thể của doanh nghiệp. </p>
<p class="text-justify">Việt Nam cần xây dựng một Chương trình quốc gia về các lĩnh
vực công nghiệp ưu tiên. Đây sẽ là cơ sở để Chính phủ trực tiếp đàm phán với
các tập đoàn, doanh nghiệp lớn theo thỏa thuận chung, thay vì để các địa phương
tự quyết định toàn bộ như hiện nay.</p>
<p class="text-justify">Vấn đề nguồn vốn là nội dung rất quan trọng. Có hai điểm mấu
chốt cần lưu ý, đó là cần thực sự khơi thông các nguồn vốn FDI thông qua việc cải
cách thủ tục hành chính và tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi. </p>
<p class="text-justify">Một ý kiến rất chính xác mà các đại biểu đã đề xuất tại Diễn
đàn đó là việc chú trọng vào dòng vốn xuyên biên giới. Vốn ODA của Việt Nam là
một nguồn lực nhưng quá đắt, nhiều ràng buộc. Do đó, tháo gỡ dòng vốn xuyên
biên giới thông qua các định chế tài chính quốc tế, các quỹ là vấn đề Việt Nam
phải suy nghĩ. </p>
<p class="text-justify">Nhằm thu hút FDI thế hệ mới, một số kiến nghị được đưa ra
như: Việt Nam cần cải tiến các hợp đồng PPA (hợp đồng mua bán điện), hình thức
bảo lãnh, cải thiện điều kiện để hưởng lãi suất thấp hơn, dòng vốn rẻ hơn… Phát
triển ngành công nghiệp quỹ (quỹ chỉ số, quỹ tín thác...) từ các chính sách thuế
phù hợp, với tinh thần muốn cạnh tranh phải theo thông lệ quốc tế, thậm chí phải
vượt trội và ưu đãi hơn; nếu quá ràng buộc, quá chặt chẽ thì không thể cạnh
tranh được. </p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90673" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/664ba98a43af4ae39a99df1c35fdcc5f-90673.png" alt="Giải pháp đột phá để cộng hưởng sức mạnh FDI và nội lực  - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">Cùng với các chính sách trên, chính sách hỗ trợ cho doanh
nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa phải được thực hiện
một cách thực chất trước, trong và sau khi thu hút FDI. Việc sửa đổi Luật Hỗ trợ
doanh nghiệp nhỏ và vừa là yêu cầu bắt buộc. Bên cạnh đó, các địa phương cần sử
dụng ngân sách một cách linh hoạt để tham gia vào cơ chế đào tạo nhân lực, tạo
ra mô hình liên kết chặt chẽ giữa “Địa phương - Nhà trường - Doanh nghiệp”, lấy
kinh nghiệm thành công của Bắc Ninh làm bài học lan tỏa. </p>
<p class="text-justify">Đối với doanh nghiệp FDI, cần có chính sách khuyến khích họ
sử dụng lợi nhuận chưa chuyển về nước để tái đầu tư dự án thứ hai tại Việt Nam
thông qua các chính sách ưu đãi tốt hơn cho những dự án mở rộng (dự án thứ 2),
tạo thuận lợi hơn trong chuyển nhượng quyền sử dụng đất…</p>
<p class="text-justify">Yếu tố quyết định sự thành bại chính là “kỷ luật thực thi”.
Một chủ trương đúng đắn nhưng nếu không được thể chế hóa nhanh chóng, thống nhất
và ổn định thì sẽ khó tạo ra thay đổi. Chúng ta cần tránh tình trạng mỗi địa
phương áp dụng chính sách một kiểu, thay vào đó phải cắt giảm thực chất chi phí
tuân thủ cho doanh nghiệp. </p>
<p class="text-justify">Việt Nam nhất quán quan điểm coi doanh nghiệp FDI là một phần
quan trọng của đất nước trong dài hạn. Dù quá trình thể chế hóa có thể còn những
bước chậm, nhưng với sự tin tưởng và lắng nghe lẫn nhau, chúng ta chắc chắn sẽ
tạo ra những không gian phát triển mới đầy hứa hẹn.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="90674" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/18/7fce6b602f534e0ca66db561375420f3-90674.png" alt="Giải pháp đột phá để cộng hưởng sức mạnh FDI và nội lực  - Ảnh 8">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 <a href="tel:+19-2026" target="_blank">+19-2026</a> phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm</a></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="90296">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/16/9dd64825160649678b86b61e57f08fae-90296.png" alt="Giải pháp đột phá để cộng hưởng sức mạnh FDI và nội lực  - Ảnh 9">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ minh bạch và chuẩn hóa hoạt động</title><description>Trao đổi với Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS.T#244; Ho#224;i Nam, Ph#243; Chủ tịch ki#234;m Tổng thư k#253; Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ v#224; vừa Việt Nam (VinaSME), cho biết khoảng 80% doanh nghiệp nhỏ v#224; vừa gặp kh#243; khăn trong tiếp cận vốn t#237;n dụng, chỉ 20 - 25% đ#225;p ứng đủ điều kiện vay. Nguy#234;n nh#226;n quan trọng l#224; ti#234;u chuẩn t#237;n dụng hiện nay chủ yếu được thiết kế cho m#244; h#236;nh doanh nghiệp lớn, chưa ph#249; hợp với đặc th#249; của khu vực doanh nghiệp nhỏ v#224; vừa.</description><pubDate>Fri, 15 May 2026 02:48:24 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/ho-tro-doanh-nghiep-nho-minh-bach-va-chuan-hoa-hoat-dong.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/ho-tro-doanh-nghiep-nho-minh-bach-va-chuan-hoa-hoat-dong.htm</guid><atom:link href="/ho-tro-doanh-nghiep-nho-minh-bach-va-chuan-hoa-hoat-dong.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/8e77f3203d374190a11677857cb6aaa6-89369.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy, TS.Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam (VinaSME), cho biết khoảng 80% doanh nghiệp nhỏ và vừa gặp khó khăn trong tiếp cận vốn tín dụng, chỉ 20 - 25% đáp ứng đủ điều kiện vay. Nguyên nhân quan trọng là tiêu chuẩn tín dụng hiện nay chủ yếu được thiết kế cho mô hình doanh nghiệp lớn, chưa phù hợp với đặc thù của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="89363">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/68e236168d3d4b5eac640e55c50f443c-89363.png" alt="Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ minh bạch và chuẩn hóa hoạt động - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89364" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/c26a9e39f6564014a5fc420219af9d04-89364.png" alt="Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ minh bạch và chuẩn hóa hoạt động - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Thưa ông, những điểm nghẽn lớn nhất trong tiếp cận tín dụng của doanh
nghiệp nhỏ và vừa là gì?</i></b></p>
<p class="text-justify"><i>Một là, vấn đề tài sản
bảo đảm.</i> Thực tế, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc biệt trong lĩnh vực sản
xuất, không phải là không có tài sản. Tuy nhiên, phần lớn tài sản của họ tồn tại
dưới dạng nhà xưởng thuê, máy móc, hàng tồn kho, đơn hàng hoặc dòng tiền. Những
tài sản này có giá trị kinh tế và khả năng tạo dòng tiền, nhưng thường không
đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn tài sản bảo đảm theo cách tiếp cận truyền thống của
ngân hàng, vốn ưu tiên tài sản hữu hình và có tính pháp lý rõ ràng. Vì vậy, vấn
đề không nằm ở việc doanh nghiệp thiếu tài sản bảo đảm, mà ở cách thức ghi nhận
và định giá các loại tài sản này chưa thực sự phù hợp.</p>
<p class="text-justify"><i>Hai là, vấn đề minh bạch
tài chính.</i> Từ góc nhìn của ngân hàng, nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa
đáp ứng yêu cầu về hệ thống báo cáo tài chính minh bạch. Tuy nhiên, nếu đặt
trong bối cảnh phát triển, phần lớn các doanh nghiệp này vận hành theo mô hình
gia đình, quy mô nhỏ, hệ thống kế toán chủ yếu phục vụ mục đích thuế, chưa được
thiết kế để đáp ứng đồng thời yêu cầu quản trị và yêu cầu của ngân hàng. Điều
này dẫn đến khoảng cách giữa chuẩn dữ liệu ngân hàng yêu cầu và khả năng đáp ứng
thực tế của doanh nghiệp, gây khó khăn trong quá trình thẩm định tín dụng.</p>
<p class="text-justify"><i>Ba là, cách thức đánh
giá rủi ro tín dụng.</i> Doanh nghiệp nhỏ và vừa có đặc điểm nổi bật là tính
linh hoạt cao, khả năng thích ứng nhanh và vòng quay vốn ngắn. Tuy nhiên, nếu
việc đánh giá chủ yếu dựa trên báo cáo tài chính, bảng cân đối kế toán, dữ liệu
lịch sử, mà chưa phản ánh đúng tốc độ quay vòng vốn và tính linh hoạt trong vận
hành, thì có thể dẫn đến việc đánh giá chưa đầy đủ về hiệu quả và tính khả thi
của phương án kinh doanh. </p>
<p class="text-justify">Từ những yếu tố trên, có thể thấy rằng hệ thống tiêu chuẩn
tín dụng hiện nay về cơ bản là đúng về mặt nguyên tắc, nhưng chưa hoàn toàn phù
hợp với đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Điều này cũng lý giải vì sao khu vực
này vẫn gặp nhiều khó khăn trong tiếp cận vốn, dù nhu cầu và vai trò kinh tế là
rất lớn.</p>
<p class="text-justify">Đáng chú ý, yếu tố tâm lý trong hệ thống ngân hàng cũng có ảnh
hưởng đáng kể. Dù chi phí xử lý một khoản vay cho doanh nghiệp nhỏ không chênh
lệch nhiều so với doanh nghiệp lớn, nhưng trên thực tế, nhiều tổ chức tín dụng
vẫn có xu hướng thận trọng hơn với nhóm khách hàng này do quan niệm rủi ro cao.
</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, nếu xét trên tổng thể dữ liệu, tỷ lệ nợ xấu của
doanh nghiệp nhỏ và vừa không hoàn toàn cao hơn so với các nhóm khách hàng
khác. Đây là một điểm cần được nhìn nhận lại trên cơ sở dữ liệu thực tế thay vì
chỉ dựa trên cảm nhận.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89365" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/8e6d6fad89434ac8a5c3029b65940c86-89365.png" alt="Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ minh bạch và chuẩn hóa hoạt động - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Trong bối cảnh thị trường liên tục biến động và chuyển đổi số diễn ra mạnh
mẽ, có ý kiến cho rằng doanh nghiệp nhỏ và vừa còn chậm trong việc đổi mới và
thích nghi, dẫn đến việc chưa đáp ứng đầy đủ các yêu cầu của ngân hàng. Quan điểm
của ông về vấn đề này ra sao?</i></b></p>
<p class="text-justify">Về vấn đề thích ứng, tôi cho rằng cả ngân hàng và doanh nghiệp
đều phải thay đổi. Tuy nhiên, xét về nguồn lực, năng lực tổ chức và khả năng đầu
tư công nghệ, ngân hàng đang có lợi thế lớn hơn. Vì vậy, trong nhiều trường hợp,
ngân hàng cần chủ động hơn trong việc thúc đẩy quá trình này.</p>
<p class="text-justify">Việc thay đổi từ phía ngân hàng chắc chắn tốn kém hơn, nhưng
bù lại có thể tạo ra tác động lan tỏa rộng đến toàn bộ hệ sinh thái tài chính.
Đặc biệt, khi khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong nền
kinh tế nhưng còn khoảng 80% chưa tiếp cận đủ vốn, thì đây cũng chính là dư địa
rất đáng kể cho tăng trưởng tín dụng. Do đó, dù cả hai phía đều cần chủ động, hệ
thống ngân hàng vẫn nên giữ vai trò dẫn dắt.</p>
<p class="text-justify">Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp nhỏ và vừa cần từng bước
nâng cao năng lực quản trị, minh bạch hóa thông tin và tiệm cận các tiêu chuẩn
tài chính. Thực tế, ngày càng nhiều doanh nghiệp đã quan tâm hơn đến việc chuẩn
hóa hoạt động, ứng dụng công nghệ, xây dựng thương hiệu và chú ý đến các yếu tố
môi trường. Điều đó cho thấy khu vực này không đứng ngoài xu hướng, mà đang nỗ
lực thích ứng.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, chi phí cho quá trình chuyển đổi là không nhỏ. Phần
lớn doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện vẫn vận hành theo mô hình gia đình, quy mô hạn
chế, thậm chí không có bộ phận kế toán riêng mà phải thuê dịch vụ bên ngoài.
Trong nhiều trường hợp, hệ thống kế toán chủ yếu phục vụ nghĩa vụ thuế, chưa được
thiết kế để đáp ứng đồng thời yêu cầu quản trị và tiêu chuẩn của ngân hàng. Đây
là một rào cản khiến việc chuyển sang mô hình minh bạch và số hóa trở nên khó
khăn hơn.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, quá trình chuyển đổi không thể diễn ra nhanh vì
đòi hỏi nhiều yếu tố cùng lúc, từ phần mềm kế toán, hệ thống quản lý, nhân sự
kiểm soát nội bộ đến việc chuẩn hóa hóa đơn, chứng từ. Với doanh nghiệp lớn,
đây là những điều gần như bắt buộc trong vận hành, nhưng với doanh nghiệp nhỏ
và vừa, đó lại là một gánh nặng chi phí đáng kể.</p>
<p class="text-justify">Một yếu tố khác cũng cần tính đến là tâm lý e ngại minh bạch
của một bộ phận doanh nghiệp, phần nào xuất phát từ áp lực thuế. Trong khi lợi
ích dài hạn của minh bạch như tiếp cận vốn hay mở rộng thị trường chưa được cảm
nhận rõ, thì nghĩa vụ thuế lại là áp lực trực tiếp và thường xuyên. Dù vậy, về
xu hướng chung, phần lớn doanh nghiệp đều hiểu rằng minh bạch là điều cần thiết;
vấn đề là họ chưa có đủ điều kiện và chưa có động lực đủ mạnh để thực hiện.</p>
<p class="text-justify">Vì vậy, thúc đẩy doanh nghiệp nhỏ và vừa thay đổi không thể
chỉ trông chờ vào nỗ lực tự thân. Điều cần thiết là một hệ sinh thái hỗ trợ đồng
bộ, gồm: định hướng chuyển đổi số, cung cấp giải pháp công nghệ phù hợp, kết nối
dữ liệu và hỗ trợ chi phí tuân thủ. Dù các chính sách hỗ trợ đã được ban hành,
nhưng để hệ sinh thái này thực sự vận hành hiệu quả vẫn cần thêm thời gian và sự
phối hợp chặt chẽ giữa các bên.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89366" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/26fa5c9ba61f4f009a17e2389a19d7aa-89366.png" alt="Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ minh bạch và chuẩn hóa hoạt động - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Hiện nay, các doanh nghiệp nhỏ và vừa đang tiếp cận Quỹ bảo lãnh tín dụng
ở mức độ như thế nào, thưa ông? Ông chia sẻ thêm quan điểm về cơ chế vận hành của
quỹ này cũng như mức độ hiệu quả trong việc hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận nguồn
vốn tín dụng ngân hàng?</i></b></p>
<p class="text-justify">Thực tế cho thấy, các quỹ hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện
nay chưa phát huy được vai trò như kỳ vọng. Dù đã được thành lập với sứ mệnh trở
thành “điểm tựa” cho doanh nghiệp trong tiếp cận vốn, song hiệu quả hoạt động của
các quỹ vẫn còn hạn chế. Qua nghiên cứu về mối quan hệ giữa quỹ, ngân hàng và
doanh nghiệp, có thể nhận diện bốn nguyên nhân chính.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> nguồn lực
của quỹ còn hạn chế cả về tài chính lẫn nhân sự. Quy mô vốn mỏng khiến các quỹ
phải đặt nặng yêu cầu bảo toàn vốn, từ đó dẫn đến tâm lý thận trọng trong hoạt
động. Bên cạnh đó, nguồn nhân lực của quỹ cũng không dồi dào như hệ thống ngân
hàng thương mại, điều này khiến quỹ có xu hướng hoạt động theo hướng “phòng thủ”,
thay vì đóng vai trò hỗ trợ và chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp. Do vậy, cách vận
hành hiện nay chưa thể hiện rõ vai trò “điểm tựa”, mà vẫn thiên về hạn chế rủi
ro cho quỹ.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> cơ chế phối
hợp giữa quỹ và ngân hàng chưa thực sự thống nhất. Trên thực tế, nhiều trường hợp
doanh nghiệp đã được quỹ bảo lãnh nhưng ngân hàng vẫn tiến hành thẩm định lại từ
đầu. Điều này làm giảm ý nghĩa của hoạt động bảo lãnh, đồng thời kéo dài thời
gian và tăng chi phí tiếp cận vốn của doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> thủ tục tiếp
cận bảo lãnh chưa thực sự đơn giản. Trong khi mục tiêu của quỹ là tháo gỡ các
rào cản mà doanh nghiệp gặp phải khi vay vốn ngân hàng, thì trên thực tế, quy
trình và thủ tục của quỹ chưa có nhiều khác biệt, thậm chí có phần phức tạp
tương đương. Điều này khiến vai trò “điểm tựa” chưa được thể hiện rõ ràng.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ tư,</i> tồn tại vấn
đề về niềm tin trong quá trình vận hành. Một số ngân hàng chưa thực sự coi bảo
lãnh của quỹ là công cụ hiệu quả để giảm thiểu rủi ro tín dụng, trong khi bản
thân các quỹ lại có tâm lý e ngại trách nhiệm. Điều này dẫn đến tình trạng cả
ba chủ thể: quỹ, ngân hàng và doanh nghiệp chưa có sự phối hợp chặt chẽ, thiếu
một cơ chế vận hành xuyên suốt và đồng bộ.</p>
<p class="text-justify">Từ những phân tích trên cho thấy điểm nghẽn lớn nhất không
phải là thiếu nguồn lực tài chính, mà là thiếu một cơ chế vận hành hiệu quả và
phù hợp với sứ mệnh của quỹ. Để phát huy hiệu quả, cần có những cải cách mang
tính thực chất, nhằm đưa hoạt động bảo lãnh trở thành công cụ hỗ trợ tín dụng
hiệu quả, đúng với vai trò và sứ mệnh đã đặt ra.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89367" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/bea6c6a0bdf44ce2ae630c586092a9c4-89367.png" alt="Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ minh bạch và chuẩn hóa hoạt động - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Theo ông, cần điều chỉnh chính sách thế nào để doanh nghiệp nhỏ và vừa
dễ tiếp cận vốn hơn, đặc biệt trong việc chuyển sang mô hình đánh giá dựa trên
dữ liệu và hoàn thiện cơ chế bảo lãnh tín dụng?</i></b></p>
<p class="text-justify">Để cải thiện khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa,
trước hết cần thay đổi tư duy trong xây dựng và thực thi chính sách. Thay vì đặt
trọng tâm vào tài sản thế chấp hay mức độ an toàn của bảo lãnh, cần chuyển sang
đánh giá doanh nghiệp dựa trên dòng tiền và dữ liệu hoạt động kinh doanh. Đây
là cách tiếp cận phù hợp hơn với đặc thù của doanh nghiệp nhỏ và vừa, vốn không
mạnh về tài sản đảm bảo nhưng lại có khả năng tạo dòng tiền linh hoạt.</p>
<p class="text-justify">Trên cơ sở đó, yêu cầu đặt ra là cần sớm điều chỉnh khung
pháp lý, đặc biệt là các quy định trong Luật Các tổ chức tín dụng theo hướng
phù hợp hơn với khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa, bao gồm cả doanh nghiệp siêu
nhỏ. Việc hoàn thiện pháp luật không chỉ nhằm mở rộng khả năng tiếp cận vốn, mà
còn góp phần tháo gỡ tâm lý e ngại trách nhiệm của các tổ chức tín dụng khi triển
khai cho vay đối với nhóm doanh nghiệp này.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, cần xây dựng một hệ sinh thái hỗ trợ đồng bộ
cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, trong đó dữ liệu đóng vai trò trung tâm. Việc hình
thành hệ thống dữ liệu dùng chung, có khả năng kết nối và truy xuất giữa các cơ
quan, tổ chức sẽ giúp nâng cao hiệu quả đánh giá, giảm chi phí thông tin và hỗ
trợ quá trình ra quyết định tín dụng.</p>
<p class="text-justify">Song song với đó, cơ chế bảo lãnh tín dụng cần được tái cấu
trúc theo hướng thực chất và hiệu quả hơn, nhằm phát huy đúng vai trò hỗ trợ
doanh nghiệp tiếp cận vốn. Theo đó, các quỹ bảo lãnh cần được thiết kế lại để vận
hành đúng với vai trò “điểm tựa”, thay vì thiên về phòng thủ như hiện nay, qua
đó hỗ trợ tốt hơn cho doanh nghiệp trong mối quan hệ với ngân hàng.</p>
<p class="text-justify">Cuối cùng, một yêu cầu quan trọng là cần điều chỉnh cách
nhìn nhận về rủi ro tín dụng đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thay vì đánh giá
chủ yếu dựa trên cảm nhận hoặc các tiêu chí truyền thống, cần chuyển sang cách
tiếp cận dựa trên dữ liệu thực. Qua đó, có thể nhìn nhận đầy đủ hơn các ưu điểm
của khu vực này, như quy mô khoản vay nhỏ, tính linh hoạt cao, khả năng thích ứng
nhanh với thị trường và trong nhiều trường hợp, tỷ lệ nợ xấu không cao như thường
được nhận định. </p>
<p class="text-justify">Việc thay đổi cách tiếp cận rủi ro không chỉ giúp cải thiện
khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà còn mở ra dư địa tăng trưởng
mới cho hệ thống tài chính – ngân hàng trong dài hạn.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89368" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/ac5b7f3a239b4ddd929688c47a95a31b-89368.png" alt="Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ minh bạch và chuẩn hóa hoạt động - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 <a href="tel:+19-2026" target="_blank">+19-2026</a> phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm</a></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="88549">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/09/c518d77fb95d4daf9f3a31e235b78ccc-88549.png" alt="Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ minh bạch và chuẩn hóa hoạt động - Ảnh 7">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Dấu ấn thu hút FDI</title><description>Sau gần 40 năm “mở cửa” đ#243;n vốn đầu tư quốc tế, Việt Nam đ#227; trở th#224;nh một trong những quốc gia thu h#250;t đầu tư trực tiếp nước ngo#224;i (FDI) th#224;nh c#244;ng nhất trong khu vực. Khu vực FDI cũng l#224; một th#224;nh phần quan trọng của nền kinh tế v#224; mang lại những dấu ấn t#237;ch cực, đ#243;ng g#243;p lớn v#224;o sự ph#225;t triển kinh tế - x#227; hội Việt Nam.</description><pubDate>Thu, 14 May 2026 01:00:00 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/dau-an-thu-hut-fdi-1292056.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/dau-an-thu-hut-fdi-1292056.htm</guid><atom:link href="/dau-an-thu-hut-fdi-1292056.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/d65e69d4d6fe49b782203124b0bd4a7c-89657.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Sau gần 40 năm “mở cửa” đón vốn đầu tư quốc tế, Việt Nam đã trở thành một trong những quốc gia thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) thành công nhất trong khu vực. Khu vực FDI cũng là một thành phần quan trọng của nền kinh tế và mang lại những dấu ấn tích cực, đóng góp lớn vào sự phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="89649">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/d2350aaaef7f4eefac844b378279f19e-89649.png" alt="Dấu ấn thu hút FDI - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89651">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/97c35b2a8a57430d8381967b8c69793c-89651.png" alt="Dấu ấn thu hút FDI - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89652" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/b1c29688f92546bcb46cdd9758d44505-89652.png" alt="Dấu ấn thu hút FDI - Ảnh 3">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89653" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/d1e6fefd86de4bd594a752bff284e26a-89653.png" alt="Dấu ấn thu hút FDI - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89654" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/3d05ffcfbe4b46d7a7d22b13983ecdbc-89654.png" alt="Dấu ấn thu hút FDI - Ảnh 5">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89655" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/a8a425d6bc5f4d529ff0c202c296f507-89655.png" alt="Dấu ấn thu hút FDI - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18 <a href="tel:+19-2026" target="_blank">+19-2026</a> phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm</a></p>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>[Phóng sự ảnh]: Lễ công bố và Vinh danh các doanh nghiệp FDI tiêu biểu 2025 - 2026 nhận giải thưởng Rồng Vàng 2026</title><description>Chương tr#236;nh Rồng V#224;ng 2026 tập trung khảo s#225;t v#224; b#236;nh x#233;t c#225;c doanh nghiệp FDI tăng trưởng ấn tượng, ti#234;n phong chuyển đổi xanh, chuyển đổi số v#224; c#243; đ#243;ng g#243;p t#237;ch cực cho cộng đồng. Rồng V#224;ng 2026 c#244;ng bố v#224; vinh danh TOP 50 Doanh nghiệp FDI ti#234;u biểu ở 5 hạng mục...</description><pubDate>Wed, 13 May 2026 14:30:51 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/phong-su-anh-le-cong-bo-va-vinh-danh-cac-doanh-nghiep-fdi-tieu-bieu-2025-2026-nhan-giai-thuong-rong-vang-2026.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/phong-su-anh-le-cong-bo-va-vinh-danh-cac-doanh-nghiep-fdi-tieu-bieu-2025-2026-nhan-giai-thuong-rong-vang-2026.htm</guid><atom:link href="/phong-su-anh-le-cong-bo-va-vinh-danh-cac-doanh-nghiep-fdi-tieu-bieu-2025-2026-nhan-giai-thuong-rong-vang-2026.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/7e3efd8b4cd64e00a81b5e071e12ccea-89691.jpg?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Chương trình Rồng Vàng 2026 tập trung khảo sát và bình xét các doanh nghiệp FDI tăng trưởng ấn tượng, tiên phong chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và có đóng góp tích cực cho cộng đồng. Rồng Vàng 2026 công bố và vinh danh TOP 50 Doanh nghiệp FDI tiêu biểu ở 5 hạng mục...</h2><p class="text-justify">Ngày 13/05/2026, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy<span> - </span>Vietnam Economic Times tổ chức lễ công bố
và vinh danh các Doanh nghiệp FDI tiêu biểu 2025 - 202<span>6</span> nhận<span> giải thưởng</span><span> </span>Rồng Vàng <span>2026 </span>(lần<span> thứ 25</span>) – Golden Dragon Awards<span> 2026</span>.</p>
<p class="text-justify">Chương
trình Rồng Vàng 2026 tập trung khảo sát và bình xét các doanh nghiệp FDI tiêu biểu theo các tiêu chí như: tăng
trưởng ấn tượng, tiên phong chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và có đóng góp tích
cực cho cộng đồng. </p>
<p class="text-justify">Năm 2026, Ban tổ chức nhận được gần 200 đề cử và đăng ký
tham gia. Qua 2 vòng khảo sát và bình xét, Chương trình Rồng Vàng 2026 công bố
và vinh danh TOP 50 Doanh nghiệp FDI tiêu biểu ở 5 hạng mục, bao gồm: </p>
<p class="text-justify">1<b>. Doanh nghiệp
FDI tiêu biểu 2025–2026;</b></p>
<p class="text-justify"><b>2. Doanh nghiệp
phát triển bền vững 2025–2026;</b></p>
<p class="text-justify"><b>3. Doanh nghiệp
tăng trưởng ấn tượng 2025–2026;</b></p>
<p class="text-justify"><b>4. Doanh nghiệp
tiên phong chuyển đổi xanh 2025–2026;</b></p>
<p class="text-justify"><b>5. Doanh nghiệp
vì cuộc sống cộng đồng 2025–2026.</b></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="89687">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/231fb1b12df64d01b94af78d771a1edf-89687.jpg" alt="TOP 10 doanh nghiệp FDI tiêu biểu 2025 - 2026 gồm: Tập đoàn Samsung Việt Nam; Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam Singapore (VSIP JSC); Công ty TNHH Intel Products Việt Nam; Qualcomm Việt Nam; Deloitte Việt Nam; Công ty TNHH SCG Việt Nam; Heineken Việt Nam; Công ty TNHH LEGO Manufacturing Việt Nam; Ngân hàng TNHH Một Thành viên United Overseas Bank (Việt Nam); Grab Việt Nam.">
<figcaption>TOP 10 doanh nghiệp FDI tiêu biểu 2025 - 2026 gồm: Tập đoàn Samsung Việt Nam; Công ty Cổ phần Phát triển Đô thị và Khu công nghiệp Việt Nam Singapore (VSIP JSC); Công ty TNHH Intel Products Việt Nam; Qualcomm Việt Nam; Deloitte Việt Nam; Công ty TNHH SCG Việt Nam; Heineken Việt Nam; Công ty TNHH LEGO Manufacturing Việt Nam; Ngân hàng TNHH Một Thành viên United Overseas Bank (Việt Nam); Grab Việt Nam.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89680">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/60ea2fd8af8744359936abdb791e268a-89680.jpg" alt="Top 10 doanh nghiệp phát triển bền vững 2025 - 2026 gồm: Central Retail Việt Nam; Công ty TNHH Nước Giải khát Coca-Cola Việt Nam; De Heus Việt Nam; Tổ hợp Khu công nghiệp DEEP C; Công ty TNHH Chuyển phát nhanh DHL – VNPT; Honda Việt Nam; Ngân hàng TNHH Một thành viên HSBC (Việt Nam); Nestlé Việt Nam; Công ty TNHH Sea Logistics (VN); Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga.">
<figcaption>Top 10 doanh nghiệp phát triển bền vững 2025 - 2026 gồm: Central Retail Việt Nam; Công ty TNHH Nước Giải khát Coca-Cola Việt Nam; De Heus Việt Nam; Tổ hợp Khu công nghiệp DEEP C; Công ty TNHH Chuyển phát nhanh DHL – VNPT; Honda Việt Nam; Ngân hàng TNHH Một thành viên HSBC (Việt Nam); Nestlé Việt Nam; Công ty TNHH Sea Logistics (VN); Ngân hàng Liên doanh Việt – Nga.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89688">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/e40825d2481f4036972aa7af9f5c0f6d-89688.jpg" alt="Top 10 Doanh nghiệp tăng trưởng ấn tượng 2025–2026 gồm: Công ty TNHH Ascott International Management (Việt Nam); Công ty TNHH Chứng khoán Maybank; Công ty TNHH Piaggio Việt Nam; Đại học RMIT Việt Nam; Công ty TNHH Ô tô Soosan Việt Nam; Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Vietnam); Công ty Ô tô Toyota Việt Nam; Công ty Cổ phần Hữu hạn Vedan Việt Nam; Công ty TNHH Giấy Lee  Man Việt Nam; Công ty TNHH Nhà thép tiền chế Zamil Việt Nam.">
<figcaption>Top 10 Doanh nghiệp tăng trưởng ấn tượng 2025–2026 gồm: Công ty TNHH Ascott International Management (Việt Nam); Công ty TNHH Chứng khoán Maybank; Công ty TNHH Piaggio Việt Nam; Đại học RMIT Việt Nam; Công ty TNHH Ô tô Soosan Việt Nam; Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard Chartered (Vietnam); Công ty Ô tô Toyota Việt Nam; Công ty Cổ phần Hữu hạn Vedan Việt Nam; Công ty TNHH Giấy Lee  Man Việt Nam; Công ty TNHH Nhà thép tiền chế Zamil Việt Nam.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89689">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/f2ff96a8cb734289a2529985b1ac4bad-89689.jpg" alt="Top 10 Doanh nghiệp tiên phong chuyển đổi xanh 2025–2026 gồm: Công ty TNHH Bia Anheuser-Busch InBev Việt Nam; CapitaLand Development (Việt Nam); Công ty TNHH Phát triển Khu đô thị Nam Thăng Long; Frasers Property Việt Nam; Gamuda Land Việt Nam – Ambience; Tập đoàn GE Vernova; Công ty Cổ phần Trung tâm Thương mại Lotte Việt Nam; Công ty TNHH Olam Việt Nam; Công ty TNHH Sơn Seamaster (Việt Nam); Signify Việt Nam.">
<figcaption>Top 10 Doanh nghiệp tiên phong chuyển đổi xanh 2025–2026 gồm: Công ty TNHH Bia Anheuser-Busch InBev Việt Nam; CapitaLand Development (Việt Nam); Công ty TNHH Phát triển Khu đô thị Nam Thăng Long; Frasers Property Việt Nam; Gamuda Land Việt Nam – Ambience; Tập đoàn GE Vernova; Công ty Cổ phần Trung tâm Thương mại Lotte Việt Nam; Công ty TNHH Olam Việt Nam; Công ty TNHH Sơn Seamaster (Việt Nam); Signify Việt Nam.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89690">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/50d52f0d7974420cb50d75c519e88456-89690.jpg" alt="Top Doanh nghiệp vì cuộc sống cộng đồng 2025–2026 gồm: Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ AIA (Việt Nam); Công ty TNHH Amway Việt Nam; Công ty TNHH Calofic; Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Dai-ichi Việt Nam; Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam; Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Generali Việt Nam; Công ty TNHH MTV Herbalife Việt Nam; Công ty TNHH Siberian Health Quốc tế; Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ MB Ageas; Công ty Cổ phần Mondelez Kinh Đô Việt Nam.">
<figcaption>Top Doanh nghiệp vì cuộc sống cộng đồng 2025–2026 gồm: Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ AIA (Việt Nam); Công ty TNHH Amway Việt Nam; Công ty TNHH Calofic; Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Dai-ichi Việt Nam; Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Fubon Việt Nam; Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ Generali Việt Nam; Công ty TNHH MTV Herbalife Việt Nam; Công ty TNHH Siberian Health Quốc tế; Công ty TNHH Bảo hiểm Nhân thọ MB Ageas; Công ty Cổ phần Mondelez Kinh Đô Việt Nam.</figcaption>
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-Song Hoàng - Trí Dũng </em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>[Phóng sự ảnh]: Gắn kết FDI với doanh nghiệp Việt, nâng sức cạnh tranh cho nền kinh tế</title><description>Tại Diễn đ#224;n Nhịp cầu Ph#225;t triển Việt Nam 2026, đại diện cơ quan quản l#253;, chuy#234;n gia kinh tế v#224; cộng đồng doanh nghiệp trong v#224; ngo#224;i nước  c#249;ng thảo luận c#225;c giải ph#225;p thu h#250;t FDI chất lượng cao, tăng cường li#234;n kết với doanh nghiệp Việt Nam, qua đ#243; tạo sức bật cho tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới...</description><pubDate>Wed, 13 May 2026 11:10:46 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/phong-su-anh-gan-ket-fdi-voi-doanh-nghiep-viet-nang-suc-canh-tranh-cho-nen-kinh-te.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/phong-su-anh-gan-ket-fdi-voi-doanh-nghiep-viet-nang-suc-canh-tranh-cho-nen-kinh-te.htm</guid><atom:link href="/phong-su-anh-gan-ket-fdi-voi-doanh-nghiep-viet-nang-suc-canh-tranh-cho-nen-kinh-te.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/7a1bf257948b44e284be221e0ba307ee-89605.jpg?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Tại Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026, đại diện cơ quan quản lý, chuyên gia kinh tế và cộng đồng doanh nghiệp trong và ngoài nước  cùng thảo luận các giải pháp thu hút FDI chất lượng cao, tăng cường liên kết với doanh nghiệp Việt Nam, qua đó tạo sức bật cho tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới...</h2><p class="text-justify">Chiều 13/5, tại Hà Nội, Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển
Việt Nam lần thứ 6 (Vietnam Connect Forum - VCF 2026) đã chính thức khai mạc.</p>
<p class="text-justify">Vietnam Connect Forum - VCF 2026 với chủ đề “Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế tư nhân trong nước hợp lực tạo sức bật tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới” do Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam và Tạp chí Kinh tế Việt Nam chủ trì tổ chức.</p>
<figure class="image detail__image align-center " id="89635">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/834684547c5b4146a4161798dc8b8e12-89635.bin" alt="Trong khuôn khổ Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam, sáng ngày 13/5 đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương và lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương có buổi làm việc với đoàn hiệp hội, doanh nghiệp nước ngoài và trong nước.">
<figcaption>Trong khuôn khổ Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam, sáng ngày 13/5 đồng chí Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương và lãnh đạo các ban, bộ, ngành Trung ương có buổi làm việc với đoàn hiệp hội, doanh nghiệp nước ngoài và trong nước.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89636">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/5dae868ae57044b1898d062af8fb95a3-89636.bin" alt="Đánh giá cao nội dung chương trình Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam năm 2026, ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, nhận định: Diễn đàn không chỉ là nơi trao đổi chính sách giữa các doanh nghiệp mà còn là cơ hội để các cơ quan Trung ương lắng nghe trực tiếp ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội và chuyên gia về những vấn đề lớn đang đặt ra đối với mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam.">
<figcaption>Đánh giá cao nội dung chương trình Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam năm 2026, ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, nhận định: Diễn đàn không chỉ là nơi trao đổi chính sách giữa các doanh nghiệp mà còn là cơ hội để các cơ quan Trung ương lắng nghe trực tiếp ý kiến từ cộng đồng doanh nghiệp, các hiệp hội và chuyên gia về những vấn đề lớn đang đặt ra đối với mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89637">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/770204eb81f24eb18ba76925e377fb4f-89637.jpg" alt="Ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho rằng những năm qua cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài đang tiếp tục thể hiện niềm tin tích cực với chính sách và định hướng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam trong thời gian tới. ">
<figcaption>Ông Nguyễn Thanh Nghị, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Chính sách, chiến lược Trung ương, cho rằng những năm qua cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài đang tiếp tục thể hiện niềm tin tích cực với chính sách và định hướng cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam trong thời gian tới. </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89584">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/442cd7ff54104ba8be6da198c5c3d1f5-89584.jpg" alt="Diễn đàn có sự tham dự và phát biểu chỉ đạo của ông Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, cùng lãnh đạo Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, lãnh đạo các bộ ngành, các ủy ban của Quốc hội, đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc...">
<figcaption>Diễn đàn có sự tham dự và phát biểu chỉ đạo của ông Nguyễn Văn Thắng, Ủy viên Ban chấp hành Trung ương Đảng, Phó Thủ tướng Chính phủ, cùng lãnh đạo Ban Chính sách, chiến lược Trung ương, lãnh đạo các bộ ngành, các ủy ban của Quốc hội, đại diện lãnh đạo các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc...</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89585">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/a07e1e3e9de9461e912d2b2e359442f3-89585.jpg" alt="Sự kiện còn có sự tham dự của hơn 300 lãnh đạo các hiệp hội xúc tiến đầu tư, thương mại nước ngoài, lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và các hiệp hội ngành hàng, các tập đoàn doanh nghiệp trong nước cùng nhiều chuyên gia kinh tế, đầu tư, thương mại và phát triển bền vững.">
<figcaption>Sự kiện còn có sự tham dự của hơn 300 lãnh đạo các hiệp hội xúc tiến đầu tư, thương mại nước ngoài, lãnh đạo các tập đoàn, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) và các hiệp hội ngành hàng, các tập đoàn doanh nghiệp trong nước cùng nhiều chuyên gia kinh tế, đầu tư, thương mại và phát triển bền vững.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89591">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/c43cb2311fac4f1cb40da64cdb455ced-89591.jpg" alt="Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đánh giá cao tầm quan trọng của Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026, Phó Thủ tướng cho rằng đây là không gian đối thoại thiết thực, góp phần kết nối khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước.   ">
<figcaption>Phó Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Văn Thắng đánh giá cao tầm quan trọng của Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026, Phó Thủ tướng cho rằng đây là không gian đối thoại thiết thực, góp phần kết nối khu vực FDI với doanh nghiệp trong nước.   </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89625">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/3f2a8451f9cb49f4bb654e1caa88b44f-89625.jpg" alt="Ông Nguyễn Văn Thắng, Phó Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo tại Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026.">
<figcaption>Ông Nguyễn Văn Thắng, Phó Thủ tướng Chính phủ, chỉ đạo tại Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89592">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/7aa831b9ea564b7e8c4e20c275de1e5c-89592.jpg" alt="Phó Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng và chuyển giao công nghệ, qua đó gia tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, Diễn đàn cũng được kỳ vọng sẽ đóng góp các khuyến nghị chính sách có giá trị, hỗ trợ Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn mới.">
<figcaption>Phó Thủ tướng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao chất lượng dòng vốn đầu tư, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng và chuyển giao công nghệ, qua đó gia tăng năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Đồng thời, Diễn đàn cũng được kỳ vọng sẽ đóng góp các khuyến nghị chính sách có giá trị, hỗ trợ Việt Nam đạt mục tiêu tăng trưởng cao và bền vững trong giai đoạn mới.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89593">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/02686a8af2464c1b8832a067c5551343-89593.jpg" alt="Diễn đàn nhận được sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng doanh nghiệp FDI, bởi đây là dịp để các nhà đầu tư nước ngoài cập nhật định hướng chính sách, xu hướng dịch chuyển dòng vốn và các ưu tiên phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Đồng thời, Diễn đàn cũng mở ra cơ hội đối thoại trực tiếp giữa doanh nghiệp FDI với cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng, hợp tác đầu tư và mở rộng thị trường. Đây được xem là nền tảng quan trọng để tăng cường hợp lực giữa hai khu vực kinh tế, hướng tới tăng trưởng bền vững và dài hạn.">
<figcaption>Diễn đàn nhận được sự quan tâm đặc biệt của cộng đồng doanh nghiệp FDI, bởi đây là dịp để các nhà đầu tư nước ngoài cập nhật định hướng chính sách, xu hướng dịch chuyển dòng vốn và các ưu tiên phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Đồng thời, Diễn đàn cũng mở ra cơ hội đối thoại trực tiếp giữa doanh nghiệp FDI với cơ quan quản lý và doanh nghiệp trong nước, thúc đẩy liên kết chuỗi cung ứng, hợp tác đầu tư và mở rộng thị trường. Đây được xem là nền tảng quan trọng để tăng cường hợp lực giữa hai khu vực kinh tế, hướng tới tăng trưởng bền vững và dài hạn.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89596">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/a60e88b9aacb4762997e714fc0adc21e-89596.jpg" alt="GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cho rằng định hướng của Việt Nam là hình thành “thế hệ FDI mới”, không chỉ mang vốn đầu tư mà còn mang theo tri thức, công nghệ và năng lực quản trị hiện đại; đồng thời tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong nước để cùng phát triển.">
<figcaption>GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam, cho rằng định hướng của Việt Nam là hình thành “thế hệ FDI mới”, không chỉ mang vốn đầu tư mà còn mang theo tri thức, công nghệ và năng lực quản trị hiện đại; đồng thời tăng cường hợp tác, liên kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong nước để cùng phát triển.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89599">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/0b7a44e733494492b65aa2d88ed8b471-89599.jpg" alt="Tiến sĩ Lê Duy Bình Giám đốc Economica Việt Nam nhận định, dòng vốn FDI vào Việt Nam thời gian qua tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo. Bên cạnh đó, FDI cũng gia tăng mạnh trong lĩnh vực bất động sản, không chỉ ở các dự án du lịch, nghỉ dưỡng mà còn mở rộng sang bất động sản công nghiệp. Đáng chú ý, tỷ lệ giải ngân và mức độ thực hiện các dự án FDI nhìn chung ở mức cao, đây là tín hiệu rất tích cực, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư và triển vọng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam.">
<figcaption>Tiến sĩ Lê Duy Bình Giám đốc Economica Việt Nam nhận định, dòng vốn FDI vào Việt Nam thời gian qua tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực sản xuất, đặc biệt là công nghiệp chế biến, chế tạo. Bên cạnh đó, FDI cũng gia tăng mạnh trong lĩnh vực bất động sản, không chỉ ở các dự án du lịch, nghỉ dưỡng mà còn mở rộng sang bất động sản công nghiệp. Đáng chú ý, tỷ lệ giải ngân và mức độ thực hiện các dự án FDI nhìn chung ở mức cao, đây là tín hiệu rất tích cực, phản ánh niềm tin của nhà đầu tư nước ngoài vào môi trường đầu tư và triển vọng tăng trưởng dài hạn của Việt Nam.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-center " id="89604">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/13/7f406071f1f8476aa8c16965028a7fe7-89604.jpg" alt="Ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam nhận định: Xét trên bình diện toàn cầu, ASEAN hiện là một trong những khu vực thu hút FDI mạnh nhất thế giới, chỉ đứng sau Mỹ và châu Âu; trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng về thu hút đầu tư trong khu vực. Nếu đặt cạnh các nền kinh tế có quy mô tương đồng như Malaysia, Thái Lan và Philippines, lượng vốn FDI vào Việt Nam đang vượt trội rõ rệt. ">
<figcaption>Ông Đinh Đức Quang, Giám đốc Khối Kinh doanh Tiền tệ, Ngân hàng UOB Việt Nam nhận định: Xét trên bình diện toàn cầu, ASEAN hiện là một trong những khu vực thu hút FDI mạnh nhất thế giới, chỉ đứng sau Mỹ và châu Âu; trong đó, Việt Nam nổi lên như một điểm sáng về thu hút đầu tư trong khu vực. Nếu đặt cạnh các nền kinh tế có quy mô tương đồng như Malaysia, Thái Lan và Philippines, lượng vốn FDI vào Việt Nam đang vượt trội rõ rệt. </figcaption>
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>[Trực tiếp]: Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026 và Chương trình Rồng Vàng lần thứ 25</title><description>Diễn đ#224;n Nhịp cầu Ph#225;t triển Việt Nam 2026 (Vietnam Connect Forum 2026) v#224; Chương tr#236;nh Rồng V#224;ng lần thứ 25 (Golden Dragon Awards 2026) ph#225;t s#243;ng trực tiếp tr#234;n nền tảng 6pg88vn.com v#224; FanPage VnEconomy....</description><pubDate>Wed, 13 May 2026 06:39:12 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/truc-tiep-dien-dan-nhip-cau-phat-trien-viet-nam-2026-va-chuong-trinh-rong-vang-lan-thu-25.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/truc-tiep-dien-dan-nhip-cau-phat-trien-viet-nam-2026-va-chuong-trinh-rong-vang-lan-thu-25.htm</guid><atom:link href="/truc-tiep-dien-dan-nhip-cau-phat-trien-viet-nam-2026-va-chuong-trinh-rong-vang-lan-thu-25.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/6af60523324247fdb7f2fa8223c7abf8-89194.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026 (Vietnam Connect Forum 2026) và Chương trình Rồng Vàng lần thứ 25 (Golden Dragon Awards 2026) phát sóng trực tiếp trên nền tảng 6pg88vn.com và FanPage VnEconomy....</h2><p class="text-justify">Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026 (lần thứ 6) (Vietnam Connect Forum 2026) có chủ đề <i>“Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài và kinh tế trong nước: Hợp lực tạo sức bật tăng trưởng bền vững trong giai đoạn mới”</i></p>
<p class="text-justify">Diễn đàn có 1 phiên tham luận, 1 phiên chia sẻ chuyên sâu (Insight Talk) và 1 phiên thảo luận. Cụ thể:</p>
<p class="text-justify">- Phiên tham luận sẽ thảo luận về 3 chủ đề chính gồm: <b>Kết nối, hợp lực giữa đầu tư nước ngoài và trong nước thúc đẩy tăng trưởng cao và bền vững; Bối cảnh toàn cầu mới và khả năng tiếp cận nguồn vốn cho nhu cầu tăng trưởng cao của Việt Nam; Kết hợp nguồn lực tài chính từ nước ngoài và khu vực tư nhân để thúc đẩy phát triển trong kỷ nguyên mới.</b></p>
<p class="text-justify">- Phiên Insight Talk với chủ đề: <b>Câu chuyện liên kết trong chuỗi cung ứng giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp Việt Nam.</b></p>
<p class="text-justify">- Phiên thảo luận chuyên đề với chủ đề: <b>FDI thế hệ mới và tăng trưởng kinh tế cao, bền vững: Từ thu hút dòng vốn chất lượng cao đến liên kết và hợp lực giữa các khu vực kinh tế.</b></p>
<p class="text-justify">Sau khi phiên toàn thể của <b>Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026</b> kết thúc, Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy - Vietnam Economic Times tổ chức <b>Chương trình Rồng Vàng lần thứ 25 - Golden Dragon Awards 2026<i> </i></b>nhằm công bố và Vinh danh 50 Doanh nghiệp FDI tiêu biểu 2025-2026.</p>
<p class="text-justify"><b>Chương trình Rồng Vàng lần thứ 25 - Golden Dragon Awards 2026<i> </i></b> kỳ vọng sẽ tiếp tục đáp ứng sự mong đợi của các doanh nghiệp FDI và trở thành không gian hội tụ, chia sẻ và kết nối thông tin của cộng đồng doanh nghiệp FDI tại Việt Nam.</p>
<p style='text-align:right;'><em>-Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu trong thu hút FDI: Từ gia công lắp ráp đến khát vọng làm chủ công nghệ lõi</title><description>Thu h#250;t đầu tư trực tiếp nước ngo#224;i (FDI) đ#227; trở th#224;nh một trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong suốt bốn thập kỷ qua. Tuy nhi#234;n, đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng về vốn đăng k#253; hay kim ngạch xuất khẩu, nền kinh tế đang phải đối mặt với những nghịch l#253; lớn về h#224;m lượng gi#225; trị gia tăng nội địa v#224; sự li#234;n kết yếu giữa khu vực FDI v#224; doanh nghiệp trong nước. </description><pubDate>Wed, 13 May 2026 02:05:55 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/nang-cap-chuoi-gia-tri-toan-cau-trong-thu-hut-fdi-tu-gia-cong-lap-rap-den-khat-vong-lam-chu-cong-nghe-loi.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/nang-cap-chuoi-gia-tri-toan-cau-trong-thu-hut-fdi-tu-gia-cong-lap-rap-den-khat-vong-lam-chu-cong-nghe-loi.htm</guid><atom:link href="/nang-cap-chuoi-gia-tri-toan-cau-trong-thu-hut-fdi-tu-gia-cong-lap-rap-den-khat-vong-lam-chu-cong-nghe-loi.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/8b31dcd4340245bbadb70042e41ea851-89282.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đã trở thành một trụ cột quan trọng của nền kinh tế Việt Nam trong suốt bốn thập kỷ qua. Tuy nhiên, đằng sau những con số tăng trưởng ấn tượng về vốn đăng ký hay kim ngạch xuất khẩu, nền kinh tế đang phải đối mặt với những nghịch lý lớn về hàm lượng giá trị gia tăng nội địa và sự liên kết yếu giữa khu vực FDI và doanh nghiệp trong nước. </h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="89269" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/63b56544e9d54fba8a3edcae4ca1fd07-89269.png" alt="Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu trong thu hút FDI: Từ gia công lắp ráp đến khát vọng làm chủ công nghệ lõi - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89270" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/63784082bf394fbe9dac894018d9ad48-89270.png" alt="Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu trong thu hút FDI: Từ gia công lắp ráp đến khát vọng làm chủ công nghệ lõi - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nhìn lại hành trình
40 năm thu hút FDI của Việt Nam, ông đánh giá thế nào về hiệu quả thực chất của
dòng vốn này trong thời gian qua?</i></b></p>
<p class="text-justify">Hiệu quả
thu hút FDI của chế định đầu tư trong thời gian qua chủ yếu được đánh giá qua
các tiêu chí cốt lõi: tổng vốn đăng ký, tiến độ thực hiện dự án và thực hiện vốn
góp, lĩnh vực ngành nghề kinh doanh, địa bàn đầu tư. Cụ thể, khi cấp giấy chứng
nhận đăng ký đầu tư hoặc quyết định chủ trương đầu tư, cơ quan quản lý luôn thẩm
định các yếu tố cơ bản: Bản chất dự án là gì? Mục tiêu và quy mô ra sao? Địa điểm
triển khai ở đâu? Tổng mức đầu tư và tiến độ thực hiện như thế nào? </p>
<p class="text-justify">Thực tế thống
kê cho đến năm 2025 cho thấy, bất chấp những giai đoạn khó khăn nhất, số lượng
dự án FDI đăng ký mới vẫn duy trì được đà tăng trưởng. </p>
<p class="text-justify">Đáng chú
ý, dòng vốn FDI đã có sự chuyển dịch mạnh mẽ về không gian. Thay vì chỉ tập
trung tại Hà Nội và TP.Hồ Chí Minh, dòng vốn này đã lan tỏa rộng khắp ra nhiều
tỉnh, thành phố khác, vươn đến cả những vùng sâu, vùng xa. Sự dịch chuyển của
FDI mang lại những thành tựu không thể phủ nhận, đó là thúc đẩy tăng trưởng kim
ngạch xuất khẩu, tạo ra lượng lớn việc làm và hỗ trợ đắc lực cho quá trình chuyển
dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp, bám sát định hướng của Đảng
và Nhà nước. </p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89271" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/ec79c4c56b9f4979832ff233e0fec71e-89271.png" alt="Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu trong thu hút FDI: Từ gia công lắp ráp đến khát vọng làm chủ công nghệ lõi - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Mặc dù FDI đã hiện diện
tại Việt Nam 40 năm và mang lại nhiều thành tựu đáng ghi nhận, song sự kết nối
với khu vực trong nước và khả năng tạo ra giá trị gia tăng cao vẫn còn quá mờ
nhạt?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đó chính
là điểm nghẽn cốt lõi mà chúng ta phải thẳng thắn nhìn nhận. Hầu hết đầu tư nước
ngoài tìm đến Việt Nam chủ yếu để tận dụng chi phí rẻ nhằm tìm kiếm lợi nhuận
ngắn hạn, thay vì kiến tạo những giá trị thặng dư bền vững. Ngay cả với những
siêu dự án có vốn đầu tư lên đến hàng trăm triệu USD, sử dụng hàng trăm hecta đất,
phần giá trị gia tăng thực tế mà Việt Nam thu về trong chuỗi giá trị toàn cầu vẫn
là một con số rất nhỏ bé. </p>
<p class="text-justify">Thực trạng
hiện nay cho thấy một nghịch lý: FDI tăng trưởng mạnh, kim ngạch xuất khẩu lớn,
nhưng hàm lượng giá trị gia tăng nội địa cấu thành trong xuất khẩu lại rất hạn
chế. Nguyên nhân là Việt Nam chưa xây dựng được một hệ thống các nhà cung cấp
(vendor) nội địa đáng tin cậy và đủ năng lực. Có những tập đoàn FDI xây dựng những
nhà máy khổng lồ, quy mô nhà xưởng lên tới 700.000 m2, nhưng lại rất ít các tập
đoàn hay doanh nghiệp tư nhân nội địa lớn mạnh song hành cùng họ. </p>
<p class="text-justify">Thực tế
cho thấy nền kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh mẽ nhờ biết cách nuôi dưỡng các
nhà cung ứng nội địa. Bắt đầu từ vị thế người làm thuê, những xưởng gia công nhỏ
lẻ đã tích lũy kinh nghiệm, vươn lên đảm nhận các khâu gia công phức tạp hơn,
sau đó tận dụng sự hỗ trợ của các nhà đầu tư nước ngoài để nghiên cứu và phát
triển (RD). Nhờ quá trình trưởng thành đó, họ tham gia sâu vào cả chuỗi sản
xuất lẫn chuỗi phân phối, vươn lên trở thành những nhà sản xuất gốc (OEM) tầm cỡ
toàn cầu. Khối doanh nghiệp nội địa Việt Nam có thể tham khảo bài học này cho
chiến lược phát triển của mình.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89274" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/646a7c9cb6fe452fad5db6f8f8c7b137-89274.png" alt="Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu trong thu hút FDI: Từ gia công lắp ráp đến khát vọng làm chủ công nghệ lõi - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Theo ông, tại sao sự
liên kết và hợp tác sản xuất giữa khối FDI và doanh nghiệp nội địa Việt Nam hiện
nay vẫn vô cùng lỏng lẻo, cho dù chúng ta đã nói tới điểm nghẽn này từ rất lâu?</i></b></p>
<p class="text-justify">Mô hình
thu hút FDI của Việt Nam trong giai đoạn trước (từ năm 2010) đã đạt được những
thành công nhất định. Tuy nhiên, trọng tâm của giai đoạn này chủ yếu dựa trên lợi
thế cạnh tranh về chi phí: tiếp cận đất đai giá rẻ (đặc biệt là đất công nghiệp),
chi phí nhân công thấp và các chi phí sản xuất, tiếp cận thị trường cũng ở mức
thấp. Sự liên kết yếu giữa khu vực FDI và doanh nghiệp tư nhân Việt Nam xuất
phát từ 7 nguyên nhân cốt lõi. </p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> sức ỳ từ thành công của mô hình
gia công chi phí thấp. Khối FDI hiện tại vẫn đang vận hành tốt và thu lợi nhuận
cao nhờ lao động rẻ và các ưu đãi về đất đai, thuế. Thậm chí, có tình trạng
doanh nghiệp FDI đầu tư chỉ để tận dụng ưu đãi (hết 2-4 năm miễn giảm thuế là
bán lại nhà máy, hưởng chênh lệch giá đất khu công nghiệp). Do đã có sẵn lợi thế
này và duy trì được đà tăng trưởng, họ thiếu động lực và áp lực phải xây dựng
chuỗi cung ứng nội địa. 100% dự án FDI gia công hiện nay vẫn có thể hoạt động
trơn tru mà không cần đến nhà cung cấp Việt Nam.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> hạn chế nội tại của doanh nghiệp
tư nhân Việt Nam. Nhiều doanh nghiệp nội địa chủ yếu mang tính chất gia đình,
công nghệ ở mức trung bình hoặc thấp, quy mô nhỏ. Điều này khiến họ rất khó mở
rộng năng lực để đáp ứng các đơn hàng lớn từ các tập đoàn đa quốc gia. </p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> yêu cầu khắt khe về tính tuân thủ
từ các tập đoàn FDI. Để trở thành nhà cung ứng nội địa cấp 1 cho các “ông lớn”
(như Samsung), doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các hợp đồng cung ứng có
tính ràng buộc rất cao. Khách hàng FDI yêu cầu khắt khe về sự ổn định của chất
lượng, độ chính xác tuyệt đối trong thời gian giao hàng, năng lực tài chính bền
vững và tính bảo mật cao. Các điều khoản hợp đồng thường đẩy sự bất lợi về phía
nhà cung cấp nội địa. </p>
<p class="text-justify"><i>Thứ tư,</i> áp lực tài chính và chu kỳ thanh
toán kéo dài. Theo thông lệ hợp đồng, việc chốt công nợ diễn ra theo tháng,
nhưng chu kỳ thanh toán thực tế lại rất chậm (có thể mất từ 3 đến 6 tháng kể từ
khi giao hàng). Sự chậm trễ này tạo ra áp lực dòng tiền khổng lồ, buộc các
doanh nghiệp nội địa phải vay vốn ngân hàng để duy trì sản xuất đơn hàng lớn,
phải chịu gánh nặng chi phí lãi vay cao. </p>
<p class="text-justify"><i>Thứ năm,</i> rủi ro hàng tồn kho đẩy về phía
nhà cung cấp. Các tập đoàn FDI thường yêu cầu nhà cung cấp phải duy trì một lượng
hàng dự trữ rất lớn để đảm bảo khả năng cung ứng tức thời. Tuy nhiên, họ lại
không cam kết tiêu thụ toàn bộ số lượng này. Mọi rủi ro đọng vốn và tồn kho đều
do nhà cung ứng nội địa gánh chịu. </p>
<p class="text-justify"><i>Thứ sáu,</i> bất cập trong hệ thống chính sách
thu hút FDI. Thời gian qua, chính sách thu hút FDI vẫn chạy theo bề nổi (chú trọng
số lượng dự án, số vốn đăng ký, kim ngạch xuất khẩu, số lượng việc làm) mà bỏ
ngỏ các chỉ tiêu về chất lượng như chuyển giao công nghệ hay hỗ trợ phát triển
doanh nghiệp vệ tinh. Gần đây có ý kiến đề xuất yêu cầu doanh nghiệp FDI phải
cam kết tỷ lệ nội địa hóa, nhưng điều này không phù hợp với các cam kết đầu tư
quốc tế hiện đại và trái với nguyên tắc bảo đảm đầu tư (quy định tại Điều 11 Luật
Đầu tư 2020 và Điều 5 Luật Đầu tư 2025). Thực tế trong quá khứ, các chính sách
ép buộc nội địa hóa trong ngành ô tô và cơ khí của chúng ta cũng đã thất bại. </p>
<p class="text-justify"><i>Thứ bảy,</i> thiếu vắng hạ tầng thông tin và cơ sở dữ liệu
trung gian. Việt Nam hiện chưa có một cơ sở dữ liệu quốc gia đồng bộ và chi tiết
về mạng lưới các nhà cung ứng nội địa. Khi các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam, họ
chủ yếu dùng mạng lưới cung ứng cũ đưa từ nước ngoài sang vì không thể tìm kiếm
thông tin về việc: doanh nghiệp Việt Nam nào có thể sản xuất mặt hàng gì, năng
lực cung ứng ra sao. Đây là điểm nghẽn lớn trong việc kết nối B2B.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89276" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/35f99ed254664e81873a7bde50b9bd82-89276.png" alt="Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu trong thu hút FDI: Từ gia công lắp ráp đến khát vọng làm chủ công nghệ lõi - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Với những điểm nghẽn
như vậy, theo ông, đã đến lúc phải thay đổi mô hình thu hút FDI?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đã đến lúc
chúng ta phải nâng cấp mô hình. Mục tiêu chiến lược cho giai đoạn từ năm 2026
trở đi, bám sát tinh thần các Nghị quyết của Bộ Chính trị về định hướng hoàn
thiện thể chế, chính sách thu hút FDI, dòng vốn FDI phải gắn kết chặt chẽ với sự
phát triển của doanh nghiệp tư nhân Việt Nam. Đây là tín hiệu chính sách rõ
ràng và cũng là kỳ vọng lớn để nền kinh tế chuyển sang một giai đoạn chất lượng
hơn.</p>
<p class="text-justify">Điều này
xuất phát từ 4 áp lực thực tiễn hiện nay: lợi thế nhân công giá rẻ không còn là
ưu thế; áp lực cạnh tranh khốc liệt với các quốc gia trong khu vực như
Indonesia, Thái Lan, Malaysia và Ấn Độ; nhu cầu thoát khỏi “bẫy” giá trị gia
tăng thấp dựa trên việc đổi mới thể chế để thu hút dòng vốn FDI chất lượng cao,
các dự án công nghệ dẫn đầu; gắn kết với các định hướng chiến lược quốc gia như
Nghị quyết 68, đặt doanh nghiệp tư nhân vào vị trí trung tâm trong chiến lược
phát triển kinh tế của kỷ nguyên mới.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89277" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/a507f524c92b4f7e881b0d9063c23dd0-89277.png" alt="Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu trong thu hút FDI: Từ gia công lắp ráp đến khát vọng làm chủ công nghệ lõi - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Để xây dựng hệ sinh
thái này, một trong những vấn đề quan trọng hàng đầu là định danh khái niệm “hợp
tác cùng có lợi” theo tinh thần Nghị quyết 50 của Bộ Chính trị. Theo đó, chúng
ta cần thay đổi bộ tiêu chí đánh giá và cấp ưu đãi như thế nào thay vì tiếp tục
dựa trên tổng vốn đăng ký hay địa bàn đầu tư, thưa ông?</i></b></p>
<p class="text-justify">Giai đoạn
mới cần một bộ tiêu chí đánh giá hoàn toàn khác biệt. <i>Một là,</i> xây dựng hệ sinh thái đồng bộ. Để thu hút FDI công nghệ
cao, không thể chỉ cấp đất trong khu công nghệ cao là xong. Cần phải hoàn thiện
đồng bộ hệ sinh thái đi kèm: hạ tầng giao thông kết nối, thủ tục xuất nhập cảnh
và lưu trú thuận tiện, di chuyển và tiện ích sinh sống tốt... để thu hút chuyên
gia cấp cao quốc tế. </p>
<p class="text-justify"><i>Hai là,</i> bảo đảm quyền sở hữu tài sản và giải
quyết tranh chấp minh bạch. Thu hút công nghệ cao đòi hỏi sự bảo vệ tuyệt đối về
tài sản và sở hữu trí tuệ. Cơ chế giải quyết tranh chấp (tòa án, trọng tài) phải
minh bạch, nhanh chóng, phù hợp với chuẩn mực quốc tế. Đặc biệt, khâu thi hành
án phải thực sự hiệu quả. Hiện tại, chế định tài sản và cơ chế thi hành án của
Việt Nam vẫn còn nhiều bất cập. </p>
<p class="text-justify"><i>Ba là,</i> tiêu chí về tác động lan tỏa. Cần
có bộ tiêu chí cụ thể để định lượng mức độ lan tỏa của doanh nghiệp FDI. Ví dụ:
chính sách ưu đãi phải gắn liền với thực chất liên kết nội địa; ưu đãi phải
dành cho những doanh nghiệp FDI có năng lực dẫn dắt, tạo ra 20 hay 100 doanh
nghiệp vệ tinh là doanh nghiệp Việt. </p>
<p class="text-justify"><i>Bốn là,</i> đầu tư ngân sách để phát triển nhà
cung cấp Việt. Thay vì dùng ngân sách địa phương để trợ cấp trực tiếp cho lao động
(như trước đây), Nhà nước cần dành nguồn lực này để tài trợ cho các chương
trình huấn luyện, đào tạo, xây dựng cổng dữ liệu quốc gia về nhà cung cấp, giúp
doanh nghiệp nội địa đủ sức trở thành nhà cung cấp cấp 1.</p>
<p class="text-justify"><i>Năm là,</i> áp dụng chuẩn mực kế toán quốc tế
(IFRS). Bắt buộc hoặc khuyến khích áp dụng IFRS không chỉ với FDI mà cả với
doanh nghiệp tư nhân Việt Nam muốn tham gia vào chuỗi cung ứng, nhằm giải quyết
bài toán minh bạch tài chính. </p>
<p class="text-justify">Sáu là, mô
hình liên kết “3 nhà”, gồm: doanh nghiệp FDI – trường đại học – doanh nghiệp tư
nhân trong nước để hỗ trợ đào tạo và nghiên cứu. </p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89278" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/e3af9f53a02a4df7a2272aa03baddfab-89278.png" alt="Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu trong thu hút FDI: Từ gia công lắp ráp đến khát vọng làm chủ công nghệ lõi - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Gần đây, chúng ta
đang đẩy mạnh thu hút đầu tư vào chip hay trí tuệ nhân tạo (AI). Ông nghĩ sao về
triển vọng thu hút những ngành này trong tương lai?</i></b></p>
<p class="text-justify">Hiện nay,
có một luồng ý kiến cho rằng Việt Nam nên tập trung thu hút đầu tư vào các
ngành công nghệ “hot” như chip điện tử hay trí tuệ nhân tạo (AI). Tuy nhiên, cần
đánh giá lại về phần giá trị gia tăng mà Việt Nam có được từ các chuỗi giá trị
này cao hay thấp, hay chủ yếu vẫn chỉ dừng lại ở khâu lắp ráp. Chúng ta chưa
làm chủ được công nghệ từ gốc, chưa có công nghệ nguồn. Thêm vào đó, hạ tầng cơ
bản cũng chưa đáp ứng được.</p>
<p class="text-justify">Do đó, một
câu hỏi lớn được đặt ra: Việc đầu tư vào những ngành rất “hot” khi chưa đủ năng
lực lõi, hạ tầng chưa sẵn sàng và giá trị thu về thấp có thực sự hiệu quả? Hay
chúng ta nên đầu tư vào những lĩnh vực quy mô nhỏ hơn nhưng mang lại giá trị
gia tăng thực chất và thiết thực hơn cho nền kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Suốt 40
năm qua, thành công lớn nhất của Việt Nam là duy trì được dòng vốn FDI tăng trưởng
dương ngay cả trong những thời kỳ khủng hoảng nhất, nhưng thiết kế chính sách
ưu đãi của chúng ta chỉ dựa trên các con số định lượng (ví dụ: vốn 3.000 tỷ đồng,
giải ngân trong 3 năm) để cấp ưu đãi (thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp 10%,
miễn thuế 4 năm, giảm 50% trong 9 năm tiếp theo). Khi ưu đãi dựa trên quy mô
thay vì kết quả, FDI sẽ chỉ nhận ưu đãi mà không mang lại công nghệ thực chất. </p>
<p class="text-justify">Do vậy, đã
đến lúc cần thay đổi tư duy thiết kế chính sách: phải xây dựng một đội ngũ
chuyên gia đặt đề bài và sử dụng lợi ích kinh tế để điều hướng FDI, như xác định
rõ Việt Nam đang khát công nghệ lõi nào, công bố minh bạch “đề bài” này cho các
nhà đầu tư quốc tế và sử dụng ưu đãi như một phần thưởng. Nếu doanh nghiệp mang
đến công nghệ lõi này và đạt được trình độ chuyển giao như cam kết, Việt Nam sẽ
không chỉ miễn thuế 4 năm mà có thể miễn đến 15 năm, hoặc miễn thuế 100% trong
suốt vòng đời dự án. </p>
<p class="text-justify">Phải để
doanh nghiệp FDI tự cân nhắc lợi ích từ việc chuyển giao công nghệ cho Việt Nam
lớn hơn việc họ giữ công nghệ đó để bán bản quyền trong 50 năm. Chỉ khi bài
toán lợi ích (win-win) được giải quyết, Việt Nam mới mong có công nghệ lõi, giống
như cách chúng ta từng yêu cầu (nhưng chưa thành công) các doanh nghiệp FDI lớn
phải đưa nhà cung cấp Việt Nam vào chuỗi cung ứng của họ. </p>
<p class="text-justify">Về phía
doanh nghiệp Việt Nam, cần nuôi dưỡng khát vọng và cam kết dài hạn trong việc
áp dụng khoa học và công nghệ, minh bạch tài chính, bảo mật dữ liệu và tuân thủ
thời gian giao hàng chuẩn quốc tế. Cần định vị lại Việt Nam không chỉ là nơi có
chi phí rẻ, mà là nơi các doanh nghiệp FDI có thể xây dựng hệ sinh thái hợp tác
dài hạn.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89280" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/c64d50077bc14b9baf23a2be2ea68b9e-89280.png" alt="Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu trong thu hút FDI: Từ gia công lắp ráp đến khát vọng làm chủ công nghệ lõi - Ảnh 8">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18<span> </span><a href="tel:+19-2026">+19-2026</a><span> </span>phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm</a></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="88558">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/09/64c27e0f9ce3498ab72d19975696154b-88558.png" alt="Nâng cấp chuỗi giá trị toàn cầu trong thu hút FDI: Từ gia công lắp ráp đến khát vọng làm chủ công nghệ lõi - Ảnh 9">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Việt Nam bước vào chu kỳ đầu tư mới</title><description>Sau gần bốn thập kỷ mở cửa thu h#250;t vốn đầu tư nước ngo#224;i, Việt Nam đang bước v#224;o một giai đoạn chuyển m#236;nh mới: từ nền kinh tế hấp dẫn nhờ lợi thế chi ph#237; cạnh tranh trở th#224;nh điểm đến tạo lập gi#225; trị d#224;i hạn cho nh#224; đầu tư to#224;n cầu. Kh#244;ng chỉ t#236;m kiếm cơ hội tăng trưởng, c#225;c quỹ đầu tư quốc tế ng#224;y c#224;ng muốn tham gia s#226;u hơn v#224;o qu#225; tr#236;nh n#226;ng cấp năng lực quản trị, chuyển đổi c#244;ng nghệ v#224; th#250;c đẩy ph#225;t triển bền vững của doanh nghiệp Việt Nam.
Trong cuộc trao đổi với Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam / VnEconomy trước thềm Diễn đ#224;n Nhịp cầu ph#225;t triển 2026, #244;ng Brook Taylor, Tổng Gi#225;m đốc Điều h#224;nh VinaCapital ki#234;m Tổng Gi#225;m đốc C#244;ng ty Quản l#253; Quỹ VinaCapital, đ#227; chia sẻ g#243;c nh#236;n về “chu kỳ n#226;ng cấp” mới của m#244;i trường đầu tư Việt Nam, cũng như vai tr#242; của c#225;c quỹ đầu tư trong việc kết nối d#242;ng vốn quốc tế với khu vực kinh tế tư nh#226;n trong nước.</description><pubDate>Wed, 13 May 2026 02:02:47 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/viet-nam-buoc-vao-chu-ky-dau-tu-moi.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/viet-nam-buoc-vao-chu-ky-dau-tu-moi.htm</guid><atom:link href="/viet-nam-buoc-vao-chu-ky-dau-tu-moi.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/d076b114a3054e3c926f997192587748-89307.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Sau gần bốn thập kỷ mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài, Việt Nam đang bước vào một giai đoạn chuyển mình mới: từ nền kinh tế hấp dẫn nhờ lợi thế chi phí cạnh tranh trở thành điểm đến tạo lập giá trị dài hạn cho nhà đầu tư toàn cầu. Không chỉ tìm kiếm cơ hội tăng trưởng, các quỹ đầu tư quốc tế ngày càng muốn tham gia sâu hơn vào quá trình nâng cấp năng lực quản trị, chuyển đổi công nghệ và thúc đẩy phát triển bền vững của doanh nghiệp Việt Nam.
Trong cuộc trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam / VnEconomy trước thềm Diễn đàn Nhịp cầu phát triển 2026, ông Brook Taylor, Tổng Giám đốc Điều hành VinaCapital kiêm Tổng Giám đốc Công ty Quản lý Quỹ VinaCapital, đã chia sẻ góc nhìn về “chu kỳ nâng cấp” mới của môi trường đầu tư Việt Nam, cũng như vai trò của các quỹ đầu tư trong việc kết nối dòng vốn quốc tế với khu vực kinh tế tư nhân trong nước.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="89301" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/f30fe1c083e04698af7ab7872553402d-89301.png" alt="Việt Nam bước vào chu kỳ đầu tư mới - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89302" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/0363769174fe48f0b0dbb62213d14526-89302.png" alt="Việt Nam bước vào chu kỳ đầu tư mới - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Từ thực tế đầu tư tại
Việt Nam, theo ông, những thay đổi nào của môi trường kinh doanh đang tạo điều
kiện để nhà đầu tư quốc tế không chỉ tìm kiếm cơ hội tăng trưởng, mà còn chủ động
tham gia sâu hơn vào quá trình phát triển, nâng cấp năng lực quản trị và gia
tăng giá trị cho doanh nghiệp trong nước?</i></b></p>
<p class="text-justify">Việt Nam
đã đạt nhiều bước tiến rõ rệt trong việc cải thiện môi trường đầu tư, qua đó
giúp nhà đầu tư chuyển dịch vai trò từ bên cung cấp vốn đơn thuần sang đối tác
đồng hành dài hạn trong quá trình tạo lập giá trị. Khung pháp lý ngày càng minh
bạch, ổn định và tiệm cận với thông lệ quốc tế đã góp phần giảm đáng kể chi phí
tuân thủ cũng như rủi ro pháp lý, từ đó khuyến khích nhà đầu tư cam kết lâu dài
và tham gia sâu hơn vào hoạt động quản trị, hoạch định chiến lược của doanh
nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Song song
với đó, tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn nhà nước và sự phát triển mạnh mẽ của
khu vực kinh tế tư nhân đã mở ra nhiều dư địa hơn cho các nhà đầu tư chiến lược
tham gia một cách thực chất. Nhà đầu tư hiện không chỉ mang đến nguồn vốn, mà
còn đóng góp về công nghệ, kinh nghiệm quản trị và năng lực vận hành. Cùng với
sự cải thiện về hạ tầng và thúc đẩy chuyển đổi số, những yếu tố này tạo điều kiện
để nhà đầu tư đồng hành cùng doanh nghiệp trong quá trình tái cấu trúc, nâng
cao hiệu quả hoạt động và từng bước nâng cấp chuỗi giá trị.</p>
<p class="text-justify">Trong bối
cảnh kinh tế toàn cầu còn nhiều biến động, sự ổn định chính trị và định hướng
phát triển dài hạn của Việt Nam tiếp tục được xem là lợi thế nổi bật. Đây là nền
tảng quan trọng để hình thành một môi trường đầu tư nơi giá trị không chỉ đến từ
dòng vốn, mà còn từ sự đồng hành chiến lược giữa nhà đầu tư quốc tế và doanh
nghiệp Việt Nam.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89303" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/945c30d3974c4674a6d9e2cdba6a2877-89303.png" alt="Việt Nam bước vào chu kỳ đầu tư mới - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Theo ông, Việt Nam hiện
đang ở giai đoạn nào trong “chu kỳ nâng cấp” của môi trường đầu tư - từ mô hình
thu hút vốn dựa trên lợi thế chi phí sang mô hình tạo lập giá trị dài hạn? Những
tín hiệu nào cho thấy Việt Nam có khả năng chuyển dịch từ lợi thế chi phí cạnh
tranh sang lợi thế về chất lượng tăng trưởng, đổi mới sáng tạo và năng lực công
nghệ trong giai đoạn tới?</i></b></p>
<p class="text-justify">Việt Nam
đang từng bước dịch chuyển lên các nấc thang cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu
và dần vượt ra khỏi hình ảnh của một “công xưởng chi phí thấp”. Dòng vốn đầu tư
hiện ngày càng tập trung nhiều hơn vào các lĩnh vực như công nghệ, kinh tế số
và tăng trưởng xanh. Đồng thời, nhiều tập đoàn đa quốc gia cũng đang mở rộng hiện
diện tại Việt Nam thông qua các hoạt động có giá trị gia tăng cao hơn, như
thành lập trung tâm nghiên cứu và phát triển (RD) hoặc triển khai các chức
năng chiến lược trong chuỗi vận hành khu vực.</p>
<p class="text-justify">Chất lượng
nguồn nhân lực tiếp tục được cải thiện nhờ đầu tư mạnh hơn vào giáo dục, đào tạo
kỹ năng và chuyển đổi số. Giai đoạn phát triển tiếp theo của Việt Nam đang được
định hình bởi các cải cách sâu rộng cùng tầm nhìn dài hạn. Theo đó, chính sách
thu hút đầu tư cũng chuyển dần từ ưu tiên số lượng sang chú trọng chất lượng dự
án, tiêu chuẩn môi trường, chuyển giao công nghệ và khả năng liên kết với doanh
nghiệp trong nước, thay vì phụ thuộc chủ yếu vào lợi thế chi phí hay ưu đãi thuế.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh
đó, các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đang đóng vai trò là chất xúc tác
quan trọng, thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, đẩy
nhanh quá trình chuyển đổi và hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực cũng
như toàn cầu.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89304" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/a887b1153f724524881bcb09768f35b4-89304.png" alt="Việt Nam bước vào chu kỳ đầu tư mới - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Trong bối cảnh Việt
Nam tiếp tục đẩy mạnh thu hút FDI và phát triển khu vực kinh tế tư nhân, theo
ông, các quỹ đầu tư như VinaCapital có thể làm gì để phát huy vai trò cầu nối
hiệu quả hơn giữa dòng vốn quốc tế và doanh nghiệp trong nước, qua đó gia tăng
tác động lan tỏa của hoạt động đầu tư đối với nền kinh tế?</i></b></p>
<p class="text-justify">Trong hơn
hai thập kỷ hoạt động tại Việt Nam, VinaCapital luôn đóng vai trò cầu nối giữa
dòng vốn quốc tế và các cơ hội tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Việt Nam. Hiện
nay, chúng tôi tập trung vào những lĩnh vực mang tính tương lai và phù hợp với
định hướng phát triển của Việt Nam, như năng lượng sạch, tiêu dùng nội địa chất
lượng cao, chuyển đổi số và logistics.</p>
<p class="text-justify">Không chỉ
cung cấp nguồn vốn, chúng tôi xác định vai trò của mình là đối tác chiến lược đồng
hành cùng doanh nghiệp. Điều đó bao gồm hỗ trợ nâng cao năng lực quản trị, cải
thiện tính minh bạch tài chính, xây dựng chiến lược tăng trưởng dài hạn, đồng
thời kết nối doanh nghiệp với công nghệ, chuyên gia và thị trường quốc tế.</p>
<p class="text-justify">Trong cách
tiếp cận này, các tiêu chí ESG (môi trường, xã hội, quản trị) và phát triển bền
vững được xem là những trụ cột xuyên suốt. Đây không chỉ là yêu cầu của nhà đầu
tư toàn cầu, mà còn là nền tảng giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng
vận hành, tăng khả năng cạnh tranh và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị khu vực
cũng như quốc tế.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89305" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/b4733be6aacf4f98881e1f0b78717984-89305.png" alt="Việt Nam bước vào chu kỳ đầu tư mới - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Năm 2026 đánh dấu gần
bốn thập kỷ Việt Nam mở cửa thu hút FDI. Từ trải nghiệm đầu tư thực tế của
mình, theo ông, đâu là những thay đổi và cải thiện rõ nét nhất trong cách Việt
Nam vận hành nền kinh tế thị trường và hỗ trợ nhà đầu tư, qua đó khiến các quyết
định đầu tư ngày càng mang tính chiến lược và dài hạn hơn?</i></b></p>
<p class="text-justify">Việt Nam
tiếp tục khẳng định vị thế là điểm đến hấp dẫn đối với dòng vốn đầu tư dài hạn
nhờ nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, khu vực sản xuất có khả năng chống chịu tốt
và thị trường tiêu dùng nội địa ngày càng mở rộng. Những cải cách pháp lý trong
thời gian gần đây, tiêu biểu như Nghị quyết 66 và các sửa đổi của Luật Đầu tư,
đang giúp khung pháp lý tiệm cận hơn với thông lệ quốc tế, đồng thời nâng cao
tính minh bạch và khả năng dự đoán cho nhà đầu tư.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh
đó, các tín hiệu chính sách ngày càng rõ nét về đổi mới sáng tạo và tăng trưởng
dựa trên công nghệ - đặc biệt thông qua Nghị quyết 57 - cho thấy quyết tâm của
Việt Nam trong việc nâng cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu. Việc cải thiện
chất lượng nguồn nhân lực, chủ động áp dụng các chuẩn mực quốc tế như Thuế tối
thiểu toàn cầu, cùng với việc thành lập Quỹ Hỗ trợ đầu tư, phản ánh cách tiếp cận
cải cách theo hướng thực chất và linh hoạt hơn.</p>
<p class="text-justify">Kết hợp với
quá trình nâng cấp hạ tầng và hội nhập quốc tế sâu rộng thông qua các hiệp định
thương mại tự do thế hệ mới, những yếu tố này đang góp phần định hình Việt Nam
trở thành một môi trường đầu tư ngày càng mang tính chiến lược, lấy tạo lập giá
trị dài hạn làm trọng tâm.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89306" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/920cc0f0d1b840a7b450a56bd47eea71-89306.png" alt="Việt Nam bước vào chu kỳ đầu tư mới - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18<span> </span><a href="tel:+19-2026">+19-2026</a><span> </span>phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm</a></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="88545">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/09/5036f8e5799442268585e623774c2ac4-88545.png" alt="Việt Nam bước vào chu kỳ đầu tư mới - Ảnh 7">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI </title><description>C#225;c doanh nghiệp FDI tại Việt Nam chia sẻ c#225;ch x#226;y dựng lợi thế cạnh tranh bền vững, th#237;ch ứng với biến động thị trường v#224; định vị cho tăng trưởng d#224;i hạn trong một trong những nền kinh tế năng động nhất Đ#244;ng Nam #193;...</description><pubDate>Wed, 13 May 2026 02:00:23 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/diem-den-chien-luoc-cho-tang-truong-dai-han-cua-doanh-nghiep-fdi.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/diem-den-chien-luoc-cho-tang-truong-dai-han-cua-doanh-nghiep-fdi.htm</guid><atom:link href="/diem-den-chien-luoc-cho-tang-truong-dai-han-cua-doanh-nghiep-fdi.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/bd894db758294e52baeff0217e328bd9-88961.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam chia sẻ cách xây dựng lợi thế cạnh tranh bền vững, thích ứng với biến động thị trường và định vị cho tăng trưởng dài hạn trong một trong những nền kinh tế năng động nhất Đông Nam Á...</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="88950">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/29738af636c34b2db513a42156b69bab-88950.png" alt="Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI  - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88951">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/a2a7027154d34d4dbbbb3add454d51eb-88951.png" alt="Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI  - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88952">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/458e79fe29b1465b8ed267f6c3c8c8c8-88952.png" alt="Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI  - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Kể từ khi SCG bắt đầu đầu tư tại Việt Nam vào năm 1992, quốc
gia này thực sự đã trở thành ngôi nhà thứ hai của SCG. Khi tiến gần đến cột mốc
35 năm, chúng tôi có thể thấy rõ hai bên đã cùng nhau phát triển mạnh mẽ như thế
nào. Từ những hoạt động thương mại cơ bản ban đầu, đến nay chúng tôi đã cung cấp
các giải pháp xanh, chất lượng cao, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống hàng
ngày của người dân.</p>
<p class="text-justify">Để thể hiện cam kết lâu dài, Việt Nam hiện là thị trường hoạt
động lớn nhất của chúng tôi bên ngoài Thái Lan. Trong suốt thời gian qua, chúng
tôi đã đầu tư hơn 7 tỷ USD vốn FDI vào Việt Nam. Hiện chúng tôi vận hành hơn 50
nhà máy trong bốn lĩnh vực chính: hóa dầu, bao bì, xi măng/vật liệu xây dựng và
logistics, với hơn 16.000 nhân sự.</p>
<p class="text-justify">Bí quyết thành công cốt lõi của chúng tôi là luôn đóng vai
trò “đối tác đồng hành phát triển” cùng Việt Nam. Chúng tôi tin rằng doanh nghiệp
chỉ có thể phát triển khi đất nước phát triển.</p>
<p class="text-justify">Để thực hiện điều này, SCG tập trung vào năm định hướng phù
hợp với chương trình nghị sự quốc gia: (i) đầu tư dài hạn, đặc biệt là vào các
tổ hợp hóa dầu (LSP), nhằm góp phần đưa Việt Nam trở thành nền kinh tế có thu
nhập cao hơn; (ii) thúc đẩy đổi mới sáng tạo, đặc biệt trong sản xuất thông
minh và các sản phẩm có giá trị gia tăng cao; (iii) lấy con người làm trung
tâm, thông qua việc liên tục đào tạo đội ngũ lãnh đạo và nhân viên với các kỹ
năng tương lai tại SCG Academy; (iv) tích cực hỗ trợ chuyển đổi xanh và mục
tiêu phát thải ròng bằng 0, đồng thời quan tâm đến cộng đồng địa phương; (v)
thúc đẩy tăng trưởng bao trùm, thông qua hợp tác chặt chẽ với chính phủ và các
đối tác trong nước để đảm bảo không ai bị bỏ lại phía sau.</p>
<p class="text-justify">Nền tảng kinh tế của Việt Nam rất vững chắc và hấp dẫn. Quốc
gia này đang đi đúng hướng với mức tăng trưởng GDP đạt 8% trong năm 2025 và
tham vọng đạt 10% trong năm nay. Động lực này đến từ dòng vốn đầu tư nước ngoài
gia tăng và quá trình đô thị hóa mạnh mẽ.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi nhận thấy có bốn yếu tố ưu tiên sẽ giúp Việt Nam
trở nên hấp dẫn hơn nữa đối với FDI. Thứ nhất, cam kết cải cách hành chính là một
tín hiệu rất tích cực. Thứ hai, Việt Nam cần một môi trường chính sách ổn định,
minh bạch và có thể dự đoán được, bao gồm cả việc bảo vệ mạnh mẽ quyền sở hữu
trí tuệ. Thứ ba, đầu tư vào nguồn nhân lực sẵn sàng cho tương lai là yếu tố
then chốt. Thứ tư, một khung pháp lý mạnh mẽ hơn cho chuyển đổi xanh sẽ là “nam
châm” thu hút dòng vốn đầu tư mới. Khi các doanh nghiệp toàn cầu đẩy nhanh lộ
trình hướng tới phát thải ròng bằng 0, họ sẽ chủ động tìm kiếm những quốc gia hỗ
trợ công nghệ carbon thấp và Việt Nam có cơ hội lớn để dẫn đầu trong lĩnh vực
này.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi xin chúc mừng Ban lãnh đạo mới của Việt Nam nhiệm
kỳ 2026-2031, đồng thời đánh giá cao những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong
cải cách chính sách và thúc đẩy chuyển đổi xanh. Điều này củng cố niềm tin của
chúng tôi vào định hướng dài hạn của đất nước. Dù vẫn còn những thách thức ngắn
hạn như chi phí năng lượng, bức tranh tổng thể vẫn rất tích cực. Chúng tôi nhìn
thấy nhiều cơ hội to lớn tại đây và hoàn toàn tin tưởng vào tương lai dài hạn của
Việt Nam”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88953">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/6d3177c115664f2d8df80a3518a26235-88953.png" alt="Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI  - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88954" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/e2b1cd375f654c9697281f82f7d9c54f-88954.png" alt="Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI  - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Trong hơn 30 năm hoạt động tại Việt Nam, Toyota đã trải qua
nhiều dấu mốc quan trọng, từ việc thành lập năm 1995 và đưa nhà máy vào hoạt động
năm 1996, đặt nền tảng cho sản xuất ô tô trong nước. Trên nền tảng đó, công ty
không ngừng mở rộng sản phẩm, hệ thống đại lý, chi nhánh và trạm ủy quyền cũng
như tích cực thúc đẩy nội địa hóa, góp phần phát triển ngành công nghiệp ô tô
Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Những yếu tố giúp Toyota gắn bó và phát triển bền vững tại
Việt Nam có thể được nhìn nhận từ hai khía cạnh.</p>
<p class="text-justify">Trước hết là các yếu tố từ chính doanh nghiệp, bao gồm cam kết
đầu tư dài hạn, định hướng lấy khách hàng làm trung tâm và sự thấu hiểu thị trường
Việt Nam. Trên cơ sở đó, Toyota không ngừng xây dựng hệ thống sản xuất, phân phối
và dịch vụ đồng bộ, đồng thời thúc đẩy nội địa hóa và phát triển nguồn nhân lực
trong nước.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó là sự đồng hành và hợp tác chặt chẽ từ các bên
liên quan. Hành trình hơn 30 năm của Toyota được xây dựng trên nền tảng niềm
tin, với sự hỗ trợ từ Chính phủ Việt Nam, chính quyền địa phương, hệ thống đại
lý Toyota và Lexus, các nhà cung cấp, đối tác, cơ quan truyền thông và đặc biệt
là khách hàng.</p>
<p class="text-justify">Chính những yếu tố này đã tạo dựng niềm tin và là nền tảng
cho kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh bền vững. Trên cơ sở đó, Toyota không
chỉ đóng góp vào tăng trưởng kinh tế và ngân sách nhà nước, mà còn tạo việc
làm, thúc đẩy công nghiệp hỗ trợ, đồng thời tích cực triển khai các hoạt động
vì cộng đồng, hướng tới mục tiêu trở thành “công dân tốt trong cộng đồng” và
đóng góp vào sự phát triển bền vững của Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Việt Nam là một trong những thị trường có môi trường đầu tư
ngày càng cải thiện, với nền tảng kinh tế vĩ mô ổn định, tốc độ tăng trưởng
tích cực và tiềm năng phát triển dài hạn. Quy mô dân số lớn, tầng lớp trung lưu
gia tăng cùng nhu cầu di chuyển ngày càng cao tiếp tục là động lực quan trọng
cho sự phát triển của ngành ô tô.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, các định hướng và chính sách của Chính phủ Việt
Nam trong việc thúc đẩy tăng trưởng xanh, chuyển đổi năng lượng và phát triển bền
vững đang mở ra nhiều cơ hội mới cho doanh nghiệp. Trong thời gian tới, với việc
tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý theo hướng ổn định, minh bạch và có lộ trình
rõ ràng, Việt Nam được kỳ vọng sẽ duy trì sức hấp dẫn đối với các nhà sản xuất
ô tô và đạt được triển vọng phát triển tích cực”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88956">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/6baa3c51c2c64ab893796230f0f99627-88956.png" alt="Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI  - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88957" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/52eab299a33c49a39a19d4c86f74e7c2-88957.png" alt="Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI  - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Standard Chartered đã hiện diện tại Việt Nam hơn 122 năm với
lịch sử hoạt động bắt đầu từ năm 1904 khi Ngân hàng thành lập chi nhánh đầu
tiên tại Sài Gòn (nay là Thành phố Hồ Chí Minh). Tháng 8/2009, chúng tôi đã
chuyển đổi mô hình hoạt động thành Ngân hàng TNHH Một thành viên Standard
Chartered (Việt Nam) 100% vốn nước ngoài trực thuộc Ngân hàng Standard
Chartered. Đây là dấu mốc quan trọng, minh chứng cho cam kết đầu tư lâu dài và
niềm tin của chúng tôi vào tiềm năng phát triển của thị trường Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Trong suốt hành trình đó, Standard Chartered luôn duy trì mối
quan hệ hợp tác chặt chẽ với Chính phủ Việt Nam cũng như các bộ, ngành liên
quan. Từ năm 2012, ngân hàng đã đóng vai trò là đơn vị tư vấn xếp hạng tín nhiệm
quốc gia duy nhất của Việt Nam, phối hợp với Bộ Tài chính trong việc cải thiện
hệ số tín nhiệm, qua đó góp phần nâng cao uy tín của Việt Nam trên thị trường
tài chính quốc tế. Đây là nền tảng quan trọng để tiếp cận thị trường vốn quốc tế,
thu hút các nguồn lực tài chính dài hạn, bao gồm cả tài chính xanh – một lĩnh vực
ngày càng quan trọng trong bối cảnh phát triển bền vững.</p>
<p class="text-justify">Song song với đó, Standard Chartered cũng tích cực đồng hành
cùng Việt Nam trong hành trình chuyển đổi năng lượng và giảm phát thải. Kể từ
sau cam kết tại COP26, Ngân hàng đã hợp tác với Chính phủ và các đối tác trong
khuôn khổ Đối tác Chuyển dịch năng lượng công bằng (JETP) nhằm thúc đẩy huy động
nguồn lực cho các sáng kiến hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng “0” vào năm
2050. Chúng tôi tin rằng tăng trưởng xanh không chỉ là cam kết về môi trường,
mà còn mở ra cơ hội lớn để tái cấu trúc nền kinh tế theo hướng bền vững hơn,
nâng cao năng lực cạnh tranh cho nền kinh tế. </p>
<p class="text-justify">Với tư cách là một định chế tài chính quốc tế gắn bó lâu năm
với Việt Nam, Standard Chartered duy trì góc nhìn lạc quan và tin tưởng mạnh mẽ
vào triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế trong trung và dài hạn. Theo dự báo
của ngân hàng, GDP của Việt Nam có thể duy trì mức tăng trưởng bình quân khoảng
6,7 - 7,0% trong giai đoạn 2026–2030. </p>
<p class="text-justify">Trong bối cảnh Chính phủ đang thúc đẩy mạnh mẽ cải cách thể
chế, chuyển đổi số và đầu tư hạ tầng, chúng tôi cho rằng Việt Nam hoàn toàn có
cơ sở để hướng tới những giai đoạn tăng trưởng bứt phá hơn, nhờ việc tiếp tục
hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu quả điều hành và thúc đẩy các động lực tăng
trưởng mới, đồng thời đảm bảo sự cân bằng giữa tăng trưởng nhanh và phát triển
bền vững. </p>
<p class="text-justify">Những tín hiệu tích cực trong quý 1/2026, cùng với việc kiện
toàn bộ máy lãnh đạo cấp cao trong thời gian gần đây, được kỳ vọng sẽ tạo thêm
động lực cho cải cách và tăng trưởng theo hướng hiệu quả, quyết liệt và bền vững
hơn.</p>
<p class="text-justify">Việt Nam đặt mục tiêu trở thành quốc gia thu nhập trung bình
cao vào năm 2030, với GDP bình quân đầu người khoảng 7.500 – 8.500 USD/năm. Dự
kiến đến năm 2030, số lượng người thuộc tầng lớp trung lưu tại Việt Nam sẽ tăng
thêm đạt 20 - 25 triệu người. Điều này sẽ đưa Việt Nam trở thành một trong những
thị trường tiêu dùng nội địa năng động nhất châu Á, tạo lực đẩy khổng lồ cho
các dịch vụ tài chính, bán lẻ và chăm sóc sức khỏe.</p>
<p class="text-justify">Ở góc độ thương mại, Việt Nam đang ngày càng nâng cao vị thế
trong chuỗi cung ứng toàn cầu khi dần chuyển dịch sang các ngành có giá trị gia
tăng cao. Theo ước tính của chúng tôi, tỷ trọng xuất khẩu các sản phẩm công nghệ
cao và giá trị cao dự kiến sẽ chiếm khoảng 50% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt
Nam vào năm 2030.</p>
<p class="text-justify">Song song với đó, việc FTSE Russel chính thức xác nhận giữ
nguyên lộ trình nâng hạng Việt Nam từ Thị trường Cận biên lên Thị trường Mới nổi
thứ cấp bắt đầu từ ngày 21/9/2025 và nhu cầu đầu tư khoảng 135 - 150 tỷ USD cho
chuyển đổi năng lượng đến năm 2030 sẽ mở ra dư địa rất lớn cho các định chế tài
chính quốc tế như Standard Chartered thu hút dòng vốn quốc tế, đặc biệt là các
dòng vốn xanh, trái phiếu bền vững và tín chỉ carbon.</p>
<p class="text-justify">Những con số này là minh chứng cho sức mạnh nội tại và khả
năng thích ứng tuyệt vời của nền kinh tế Việt Nam. Trong chặng đường phía trước,
Standard Chartered cam kết tiếp tục đồng hành cùng Việt Nam, không chỉ với vai
trò là một tổ chức tài chính, mà còn là một đối tác chiến lược. Thông qua việc
kết nối các nguồn lực tài chính toàn cầu, chia sẻ kinh nghiệm quốc tế và thúc đẩy
các sáng kiến phát triển bền vững, ngân hàng kỳ vọng sẽ góp phần hiện thực hóa
các mục tiêu tăng trưởng dài hạn của Việt Nam”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88958">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/01871b6b94fc422db90d73b59b092b98-88958.png" alt="Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI  - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88959" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/53bdb91c51a14123bc4634b1229c43e5-88959.png" alt="Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI  - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Zamil Steel hiện đang bước sang năm thứ 30 hoạt động tại Việt
Nam, đây là một dấu mốc quan trọng và phản ánh sự tăng trưởng bền vững của
chúng tôi tại thị trường này. Trong 5 năm qua, chúng tôi đã tạo ra hơn 165 triệu
USD nguồn thu ngoại tệ và đóng góp hơn 20 triệu USD tiền thuế. Hiện nay, chúng
tôi tạo việc làm cho hơn 800 lao động và nhân sự trực tiếp, cùng với hơn 200 việc
làm gián tiếp.</p>
<p class="text-justify">Có ba yếu tố chính giúp chúng tôi đạt được sự phát triển bền
vững tại Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Thứ nhất, vị trí chiến lược của Việt Nam, kết hợp với mạng
lưới các Hiệp định thương mại tự do rộng khắp. </p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, các Hiệp định thương mại tự do giúp giảm rào cản
thương mại và thúc đẩy xuất khẩu sang nhiều thị trường khác nhau. </p>
<p class="text-justify">Thứ hai, sự tăng trưởng mạnh mẽ của các ngành xây dựng và
công nghiệp tại Việt Nam, thúc đẩy nhu cầu đối với kết cấu thép. Dòng vốn đầu
tư trực tiếp nước ngoài gia tăng, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất và hạ tầng,
đã tạo ra thị trường vững chắc cho gia công và kết cấu thép.</p>
<p class="text-justify">Thứ ba, môi trường sản xuất có chi phí cạnh tranh. Việt Nam
có lực lượng lao động tay nghề ngày càng cao, bao gồm kỹ sư, thợ hàn và công
nhân chế tạo, với chi phí lao động hợp lý. Sự kết hợp này giúp nâng cao hiệu quả
sản xuất đồng thời vẫn đảm bảo chất lượng cao.</p>
<p class="text-justify">Chuyển đổi xanh và ứng dụng công nghệ số là những yếu tố cốt
lõi trong triết lý toàn cầu của Zamil Steel. Tại Việt Nam, chúng tôi đã tích hợp
nhiều giải pháp bền vững vào quy trình sản xuất và vận hành, bao gồm đầu tư vào
năng lượng tái tạo và tiết kiệm năng lượng thông qua các công nghệ biến tần nhằm
nâng cao hiệu suất.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi cũng triển khai các biện pháp tiết kiệm nước và
năng lượng trong toàn bộ hoạt động, đồng thời sử dụng máy móc hiện đại và các hệ
thống tích hợp IoT để giám sát việc tiêu thụ tài nguyên theo thời gian thực.</p>
<p class="text-justify">Dựa trên kinh nghiệm thực tế, Việt Nam mang lại một môi trường
đầu tư rất hấp dẫn. Nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, môi trường chính trị
ổn định và dòng vốn FDI ngày càng gia tăng, đặc biệt trong các lĩnh vực sản xuất
và công nghiệp. Các nhà đầu tư cũng được hưởng lợi từ chi phí lao động cạnh
tranh và mạng lưới hiệp định thương mại tự do rộng lớn. Với những lợi thế này,
chúng tôi tiếp tục tin tưởng vào triển vọng phát triển của Việt Nam”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88960">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/b311de03797a456aa9dd41a826ae1b5a-88960.png" alt="Điểm đến chiến lược cho tăng trưởng dài hạn của doanh nghiệp FDI  - Ảnh 10">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững </title><description>Trong bức tranh hiện nay, cả khu vực FDI v#224; khối doanh nghiệp ti#234;n phong trong nước đang đ#243;ng vai tr#242; dẫn dắt xu hướng mới, khi ng#224;y c#224;ng t#237;ch hợp c#225;c ti#234;u chuẩn ESG, kinh tế tuần ho#224;n v#224; số h#243;a v#224;o chiến lược ph#225;t triển d#224;i hạn. Việt Nam v#236; thế tiếp tục được nh#236;n nhận l#224; điểm đến chiến lược trong tiến tr#236;nh t#225;i cấu tr#250;c chuỗi sản xuất bền vững tại khu vực...</description><pubDate>Wed, 13 May 2026 02:00:14 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/hoi-nhap-sau-vao-chuoi-san-xuat-ben-vung.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/hoi-nhap-sau-vao-chuoi-san-xuat-ben-vung.htm</guid><atom:link href="/hoi-nhap-sau-vao-chuoi-san-xuat-ben-vung.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/c6a99a3c8dff4118aa698d26e90de9e3-88989.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Trong bức tranh hiện nay, cả khu vực FDI và khối doanh nghiệp tiên phong trong nước đang đóng vai trò dẫn dắt xu hướng mới, khi ngày càng tích hợp các tiêu chuẩn ESG, kinh tế tuần hoàn và số hóa vào chiến lược phát triển dài hạn. Việt Nam vì thế tiếp tục được nhìn nhận là điểm đến chiến lược trong tiến trình tái cấu trúc chuỗi sản xuất bền vững tại khu vực...</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="88974">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/0f796cbab9604520a9e77199bbaf1cc2-88974.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88975">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/db0fa45ce5bf428fadeb8bdcbb2a17cb-88975.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88976" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/069b8cbdd38342d49c5a69889275f0fa-88976.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Triển vọng kinh tế Việt Nam năm 2026 được đánh giá vẫn tích
cực, dù bối cảnh toàn cầu còn tiềm ẩn nhiều bất ổn. Các diễn biến tại Trung
Đông cần được theo dõi chặt chẽ do có thể tác động đến giá dầu, đặc biệt trong
những tháng đầu năm 2026. Tuy nhiên, xét trên bình diện dài hơn, kinh nghiệm ứng
phó và khả năng vượt qua các cú sốc trong năm 2025 là cơ sở để củng cố niềm tin
vào triển vọng ổn định của nền kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Trong năm 2025, kinh tế Việt Nam đã cho thấy sức chống chịu
đáng kể, bất chấp những gián đoạn từ yếu tố thuế quan. Bước sang năm 2026, áp lực
này phần nào hạ nhiệt, dù vẫn cần theo dõi diễn biến theo từng ngành. Trên cơ sở
đó, cùng với những bài học tích lũy, triển vọng tăng trưởng của Việt Nam trong
năm nay được nhận định duy trì ổn định và khả quan.</p>
<p class="text-justify">Về động lực tăng trưởng, xuất khẩu tiếp tục giữ vai trò then
chốt. Năm 2025 ghi nhận mức tăng trưởng hai con số trong hoạt động xuất khẩu, tạo
nền tảng cho sản xuất, đây là lĩnh vực trụ cột của nền kinh tế và dự báo sẽ duy
trì đà mở rộng trong năm 2026. Bên cạnh đó, xu hướng gia tăng đầu tư toàn cầu
vào trí tuệ nhân tạo (AI) và công nghệ tiên tiến đang thúc đẩy nhu cầu đối với
bán dẫn, điện tử và linh kiện. Trong bối cảnh Việt Nam ngày càng tham gia sâu
vào chuỗi giá trị sản xuất công nghệ, các lĩnh vực này được kỳ vọng sẽ trở
thành động lực tăng trưởng quan trọng.</p>
<p class="text-justify">Đối với dòng vốn FDI, diễn biến năm 2025 cho thấy xu hướng
tích cực hơn so với dự báo ban đầu. Dù từng có lo ngại về tác động của thuế
quan, thực tế cho thấy các doanh nghiệp vẫn duy trì kế hoạch đầu tư nhờ khả
năng thích ứng linh hoạt. Xu hướng đa dạng hóa chuỗi cung ứng sang Đông Nam Á
tiếp tục được củng cố, giúp Việt Nam duy trì sức hút đối với nhà đầu tư nước
ngoài. Năm 2026, dòng vốn FDI được kỳ vọng vẫn duy trì ở mức cao. Trong đó, sản
xuất tiếp tục là lĩnh vực thu hút FDI chủ đạo, trong khi bán lẻ và du lịch cũng
ghi nhận sự quan tâm gia tăng, phù hợp với xu hướng khu vực. Trong giai đoạn tới,
ưu tiên chính sách là duy trì và nâng cao năng lực cạnh tranh, đặc biệt trong
thu hút FDI công nghệ cao và giá trị gia tăng lớn. </p>
<p class="text-justify">Bên cạnh việc thu hút đầu tư mới, yêu cầu đặt ra là giữ
chân, khuyến khích doanh nghiệp mở rộng và nâng cấp hoạt động tại Việt Nam. Các
giải pháp trọng tâm bao gồm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng cường phối
hợp giữa các cơ quan quản lý và thúc đẩy liên kết với khu vực doanh nghiệp.
Trong bối cảnh các lợi thế truyền thống như chi phí lao động hay tỷ giá không
còn duy trì lâu dài, việc tập trung vào năng suất, đổi mới sáng tạo và kỹ năng
lao động sẽ là yếu tố then chốt để duy trì sức hấp dẫn của Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, đầu tư công tiếp tục giữ vai trò trụ cột trong
tăng trưởng kinh tế. Kế hoạch giai đoạn 2026 - 2030 đặt trọng tâm vào phát triển
hạ tầng, bao gồm giao thông, cảng biển, logistics, năng lượng, hệ thống nước và
hạ tầng số. Những khoản đầu tư này không chỉ cải thiện năng suất và hiệu quả
toàn nền kinh tế mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất - kinh
doanh, qua đó thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm và nâng cao thu nhập trong dài
hạn”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88977">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/0d9e9dfe56f94b13825f096764cce447-88977.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88978" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/eccea0a41fc347baa1279f46f2695ce3-88978.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Trong vai trò doanh nghiệp hạ tầng số chủ lực, Viettel đang
từng bước khẳng định cách tiếp cận tiên phong khi gắn phát triển công nghệ với
các mục tiêu bền vững. Trong những năm gần đây, doanh nghiệp liên tiếp ghi nhận
các dấu mốc trong đầu tư hạ tầng dữ liệu, nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng
và triển khai các sáng kiến xã hội dựa trên nền tảng số.</p>
<p class="text-justify">Đơn cử, Viettel đưa vào vận hành Trung tâm dữ liệu Hòa Lạc với
công suất 30MW, quy mô 60.000 máy chủ, hiện là cơ sở lớn nhất Việt Nam. Trung
tâm được thiết kế nhằm đáp ứng nhu cầu xử lý dữ liệu ngày càng tăng, đặc biệt
trong bối cảnh các ứng dụng AI và phân tích dữ liệu phát triển nhanh. </p>
<p class="text-justify">Trung tâm dữ liệu Hòa Lạc được vận hành với chỉ số hiệu quả
năng lượng (PUE) khoảng 1.4 - 1.45, thấp hơn mức phổ biến trong nước, đồng thời
sử dụng hệ thống làm mát hiệu suất cao. Trung tâm đồng thời đang nắm giữ nhiều
chứng chỉ xanh như tiêu chuẩn về quản lý năng lượng, tiêu chuẩn về quản lý tác
động môi trường, tiêu chuẩn về quản lý vệ sinh lao động. Đây cũng là trung tâm
dữ liệu đầu tiên cam kết hướng tới sử dụng năng lượng tái tạo để đáp ứng 30% lượng
điện tiêu thụ.</p>
<p class="text-justify">Theo kế hoạch, Viettel sẽ triển khai 5 trung tâm dữ liệu quy
mô lớn theo mô hình AI Factory trong giai đoạn 2026 - 2030 tại TP.Hồ Chí Minh,
Hà Nội, Khánh Hòa và Đồng Tháp. Tổng công suất dự kiến đạt khoảng 350 MW từ nay
đến năm 2030. Viettel không chỉ dừng lại ở việc xây dựng hạ tầng trung tâm dữ
liệu, mà đang từng bước phối hợp cùng các đối tác trong nước để kiến tạo nền tảng
cho nền kinh tế số và nền kinh tế AI của Việt Nam trong giai đoạn tới.</p>
<p class="text-justify">Mới đây, tại Bangkok (Thái Lan), Viettel được vinh danh tại
Giải thưởng Global CSR  ESG Awards, trong đó Viettel IDC nhận giải cho các
sáng kiến phát triển trung tâm dữ liệu và điện toán đám mây theo hướng bền vững.
Các hoạt động được ghi nhận gồm kiểm kê phát thải theo chuẩn quốc tế, duy trì
tiêu chuẩn quản lý môi trường và từng bước tích hợp ESG vào vận hành hạ tầng số.</p>
<p class="text-justify">Cùng với đó, dự án Internet Trường học (triển khai từ năm
2008) đã kết nối khoảng 40.000 cơ sở giáo dục, tương đương 92% số trường học
trên cả nước, hỗ trợ khoảng 25 triệu học sinh, sinh viên và giáo viên tiếp cận
môi trường học tập trực tuyến, đồng thời được mở rộng ra một số thị trường quốc
tế.</p>
<p class="text-justify">Những khoản đầu tư và kết quả đạt được của Viettel tiếp tục
phản ánh rõ định hướng phát triển bền vững trong quá trình xây dựng hạ tầng số
tại Việt Nam và các thị trường quốc tế, đồng thời thể hiện cam kết gắn tăng trưởng
với trách nhiệm xã hội và môi trường. Thông qua việc triển khai các sáng kiến,
doanh nghiệp đang từng bước lồng ghép yếu tố bền vững vào hạ tầng số, qua đó vừa
hỗ trợ giải quyết các nhu cầu xã hội, vừa nâng cao hiệu quả khai thác nguồn lực
và tạo nền tảng cho tăng trưởng dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Trong giai đoạn tới, Viettel sẽ tiếp tục mở rộng các sáng kiến
ESG, thúc đẩy chuyển đổi năng lượng sạch, số hóa toàn diện hoạt động và phổ cập
công nghệ đến mọi người dân, góp phần kiến tạo một tương lai bền vững vì con
người và hành tinh xanh”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88981">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/ae9850bbd2d341e0b64a4f33f9bee3eb-88981.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88982" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/c187c1aeed8d4b27ae7612a696d85d56-88982.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Việt Nam tiếp tục được đánh giá là điểm đến đầu tư hấp dẫn
trong khu vực nhờ nền tảng ổn định vĩ mô, môi trường kinh doanh cải thiện và định
hướng hội nhập quốc tế rõ ràng. Khu vực FDI giữ vai trò quan trọng khi không chỉ
bổ sung vốn, công nghệ và việc làm mà còn góp phần thúc đẩy đổi mới sáng tạo,
nâng cao chuẩn mực quản trị và lan tỏa các thực hành phát triển bền vững.</p>
<p class="text-justify">Trong thời gian tới, triển vọng thu hút FDI được củng cố khi
các dự án hạ tầng quy mô lớn như sân bay quốc tế Long Thành, đường cao tốc Bắc
– Nam… cùng hệ thống cảng biển, logistics tiếp tục được triển khai. Những yếu tố
này được kỳ vọng nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia và tăng cường vị thế của
Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.</p>
<p class="text-justify">Theo ghi nhận từ Swire Coca-Cola Việt Nam, niềm tin của cộng
đồng doanh nghiệp quốc tế đối với thị trường Việt Nam đang gia tăng khi nhiều tập
đoàn lựa chọn Việt Nam là điểm đến chiến lược cho đầu tư dài hạn. Đồng hành
cùng Việt Nam hơn ba thập kỷ, với các giải thưởng như Rồng Vàng, Ngôi sao Bền vững
CSI 2025 (VCCI) và nhiều năm liên tiếp nằm trong Top 10 Doanh nghiệp Bền vững,
đã phản ánh định hướng đầu tư gắn với trách nhiệm và tiêu chuẩn ESG.</p>
<p class="text-justify">Để thích ứng với xu hướng chuyển đổi, Swire Coca-Cola Việt
Nam xác định chuyển đổi xanh và chuyển đổi số là hai trụ cột chiến lược nhằm tạo
lợi thế cạnh tranh dài hạn. Năm 2025, doanh nghiệp đưa vào vận hành nhà máy tại
Tây Ninh với tổng vốn đầu tư 136 triệu USD, đây là cơ sở đầu tiên trong ngành đồ
uống tại Việt Nam đạt chứng nhận LEED Vàng, thể hiện định hướng sản xuất theo
hướng xanh và hiệu quả.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi đặt mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, tập
trung nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng và quản lý nước. Việt Nam hiện là một
trong những thị trường có mức sử dụng nước hiệu quả nhất trong hệ thống toàn cầu
của Coca-Cola, với trung bình 1,4 lít nước cho mỗi lít sản phẩm. Đồng thời, hơn
45.000 thiết bị làm mát tiết kiệm năng lượng đã được triển khai trên toàn quốc.</p>
<p class="text-justify">Trong lĩnh vực bao bì, doanh nghiệp thúc đẩy mô hình kinh tế
tuần hoàn, với 100% bao bì được thiết kế có thể tái chế. Năm 2025, vật liệu tái
chế chiếm 35% tổng bao bì, trong đó hơn 23% là nhựa tái chế rPET.</p>
<p class="text-justify">Song song đó, chuyển đổi số được triển khai từ năm 2019, tập
trung vào nâng cao trải nghiệm khách hàng và tối ưu vận hành. Hiện hơn 90% năng
lực kinh doanh cốt lõi đã được tự động hóa, từ các công cụ bán hàng, hệ thống
giám sát sản xuất ứng dụng AI đến các nền tảng lập kế hoạch sử dụng phân tích dữ
liệu và học máy. Doanh nghiệp cũng phát triển nền tảng thương mại điện tử
riêng, cho phép khách hàng đặt hàng trực tuyến và tích hợp với hệ thống vận
hành.</p>
<p class="text-justify">Việc kết hợp chuyển đổi xanh và chuyển đổi số không chỉ dừng
ở việc ứng dụng công nghệ, mà còn hướng tới thay đổi cách thức vận hành và tạo
ra giá trị. Đây được xem là nền tảng cho tăng trưởng bền vững, đồng thời đóng
góp lâu dài cho nền kinh tế Việt Nam”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88983">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/a054cc0ec5be41f78bd77f109ff1d932-88983.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88985" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/553223ccfcbf465981a8ed1660d3824e-88985.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Trong bối cảnh thị trường ngày càng đề cao yếu tố môi trường,
phát triển bền vững không còn chỉ là yêu cầu tuân thủ mà đang trở thành lợi thế
cạnh tranh của doanh nghiệp. Khi các tiêu chuẩn xanh được siết chặt, việc tích
hợp các thực hành bền vững vào hoạt động kinh doanh được xem là điều kiện cần để
duy trì vị thế trên thị trường.</p>
<p class="text-justify">Trong lĩnh vực logistics, DHL Express Việt Nam đặt mục tiêu
đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, thông qua việc từng bước chuyển đổi
sang nhiên liệu thay thế, phương tiện vận chuyển điện hóa và ứng dụng công nghệ
trong tối ưu vận hành.</p>
<p class="text-justify">Việt Nam ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn của dòng vốn đầu
tư quốc tế, doanh nghiệp tập trung đẩy mạnh ứng dụng công nghệ và tự động hóa
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động và kiểm soát chi phí, đồng thời thúc đẩy số
hóa các quy trình để tối ưu vận hành và nâng cao chất lượng dịch vụ khách hàng.
Đặc biệt, doanh nghiệp tập trung nâng cấp hạ tầng logistics và ứng dụng các giải
pháp công nghệ hiện đại, tự động hóa nhằm cải thiện độ chính xác và hiệu quả vận
hành.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, DHL tiếp tục đầu tư vào cơ sở hạ tầng và nhân lực
nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, chú trọng các yếu tố an toàn, sức khỏe và
phúc lợi cho người lao động trong ngành logistics. Các sáng kiến bao gồm phát
triển hệ thống kho bãi thân thiện môi trường, góp phần giảm tác động tiêu cực đến
môi trường và nâng cao hiệu quả vận hành, cùng với việc duy trì đào tạo nhân sự
để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường.</p>
<p class="text-justify">Trong lộ trình chuyển đổi xanh, toàn bộ hoạt động kho bãi tại
Việt Nam đã đạt trạng thái trung hòa carbon. Trọng tâm tiếp theo là giảm phát
thải trong hoạt động vận chuyển - lĩnh vực chiếm tỷ trọng lớn trong tổng lượng
phát thải của ngành.</p>
<p class="text-justify">Một trong những giải pháp đáng chú ý là dịch vụ GoGreen Plus
của DHL Express Việt Nam, cung cấp các công cụ đo lường và quản lý phát thải
carbon trong chuỗi cung ứng. Cụ thể, hệ thống báo cáo khí thải carbon giúp
doanh nghiệp đánh giá toàn diện tác động môi trường từ hoạt động vận tải và
logistics, qua đó xác định các điểm cần cải thiện. Bảng dữ liệu khí thải carbon
dưới dạng công cụ trực tuyến cho phép theo dõi và tối ưu chi phí thông qua mô
hình hóa trực quan chuỗi cung ứng.</p>
<p class="text-justify">Song song với các giải pháp công nghệ, DHL Express Việt Nam
cung cấp hệ sinh thái dịch vụ hướng tới logistics bền vững. Doanh nghiệp có thể
tiếp cận mạng lưới vận chuyển toàn cầu với hơn 120.000 điểm giao nhận tại 220
quốc gia và vùng lãnh thổ, đồng thời lựa chọn các phương thức giao hàng linh hoạt
gắn với tiêu chí giảm phát thải. Các giải pháp bao bì thân thiện môi trường và
công cụ theo dõi, bù đắp khí thải cũng được tích hợp, giúp tối ưu vận hành chuỗi
cung ứng theo hướng hiệu quả và có trách nhiệm hơn.</p>
<p class="text-justify">Việc triển khai đồng bộ các sáng kiến này cho thấy xu hướng
kết hợp giữa tối ưu chi phí vận hành và giảm tác động môi trường trong ngành
logistics. Qua đó, doanh nghiệp không chỉ đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao về
phát triển bền vững mà còn góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và giá trị
thương hiệu trong dài hạn”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88986">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/58250b2ffaeb476eaa4efba56fa44ac9-88986.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 10">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88987" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/708a00ce19624279a6d513f2ef97addd-88987.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 11">
</figure>
<p class="text-justify">“Việt Nam là một trong những thị trường có quy mô tiêu thụ
bia đáng kể, với mức độ cạnh tranh ngày càng cao trong ngành. Trong bối cảnh
đó, các doanh nghiệp không chỉ tập trung vào sản phẩm mà còn đầu tư đồng bộ vào
công nghệ, xây dựng thương hiệu và thúc đẩy các hoạt động phát triển bền vững.
Đồng thời, định hướng chung từ cơ quan quản lý về nâng cao tiêu chuẩn môi trường
và thúc đẩy mô hình “nhà máy xanh” đang tạo động lực để doanh nghiệp từng bước
cải tiến công nghệ, tối ưu sử dụng tài nguyên và tăng cường ứng dụng năng lượng
tái tạo. </p>
<p class="text-justify">Trong xu thế này, AB InBev định hướng Việt Nam là một trong
những thị trường đầu tư dài hạn. Với đặc thù ngành bia gắn liền với tài nguyên
và cộng đồng địa phương, các sáng kiến phát triển bền vững, đặc biệt liên quan
đến quản lý và sử dụng hiệu quả nguồn nước, được doanh nghiệp chú trọng triển
khai. Đây cũng là cơ sở để công ty thúc đẩy các giải pháp nhằm tối ưu hóa việc
sử dụng nước và đóng góp tích cực cho địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động. </p>
<p class="text-justify">Vào tháng 3/2026, tại TP.Hồ Chí Minh, hưởng ứng Ngày Nước Thế
giới 22/3 do Liên hợp quốc phát động, AB InBev tại Việt Nam tiếp tục triển khai
các sáng kiến nhằm bảo vệ tài nguyên nước, hướng tới phát triển bền vững và đề
cao giá trị của thiên nhiên. Tại Nhà máy AB InBev Việt Nam, việc sử dụng nước được
tối ưu hóa thông qua các giải pháp công nghệ hiện đại. </p>
<p class="text-justify">Doanh nghiệp từng bước nâng cao hiệu quả sử dụng nước với
các giải pháp như tái sử dụng nước tuần hoàn, phân cấp nguồn nước và áp dụng
quy trình vệ sinh tại chỗ (CIP) với mức độ tự động hóa cao. Nước thải sau sản
xuất được xử lý thông qua các công nghệ sinh học và lọc tiên tiến, nhằm đảm bảo
đáp ứng các quy chuẩn môi trường trước khi xả thải hoặc tái sử dụng. </p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, các công cụ giám sát số hóa theo thời gian thực
cũng được áp dụng để theo dõi tiêu thụ nước và hỗ trợ phát hiện sớm các điểm thất
thoát, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên. Từ năm 2017 đến năm 2025,
AB InBev Việt Nam đã cải tiến 59% nguồn nước tuần hoàn, để tối ưu hóa sử dụng
nguồn nước.</p>
<p class="text-justify">Với định hướng dài hạn, AB InBev hướng tới xây dựng một hệ
sinh thái sản xuất và tiêu dùng theo hướng bền vững, trong đó nguồn nước được sử
dụng hiệu quả, các yếu tố môi trường được quan tâm và cân nhắc trong quá trình
vận hành. Cách tiếp cận này góp phần thúc đẩy sự cân bằng giữa hoạt động sản xuất
và bảo vệ tài nguyên, hướng tới giá trị phát triển bền vững cho cộng đồng và xã
hội”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88988">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/4143deb074aa41048525eccea0cc948c-88988.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 12">
</figure>
<p class="text-justify"><b>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18</b>+<b>19 - 2026 phát hành ngày 09/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại <a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a></b><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-17-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><b><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">:</a> </b></p>
<p class="text-justify"><b><i></i></b><b>Link:<i> <a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html</a></i></b></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="88548">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/09/6fbabce9f3d5404facdd3c422effb465-88548.png" alt="Hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất bền vững  - Ảnh 13">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs</title><description>B#224;n tr#242;n kỳ n#224;y, Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam/VnEconomy ghi nhận c#225;c #253; kiến về sự kh#225;c biệt giữa ng#226;n h#224;ng số v#224; ng#226;n h#224;ng kiến tạo số, thực trạng triển khai tại Việt Nam, cũng như những điểm nghẽn về chuẩn mực, dữ liệu v#224; bảo mật đang cản trở qu#225; tr#236;nh ph#225;t triển của m#244; h#236;nh ng#226;n h#224;ng kiến tạo số…</description><pubDate>Wed, 13 May 2026 01:59:32 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/ngan-hang-kien-tao-so-khoi-thong-tin-dung-cho-smes.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/ngan-hang-kien-tao-so-khoi-thong-tin-dung-cho-smes.htm</guid><atom:link href="/ngan-hang-kien-tao-so-khoi-thong-tin-dung-cho-smes.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/5aced83730fc4a7fbb42ca0ef9cbfe73-89326.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Bàn tròn kỳ này, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy ghi nhận các ý kiến về sự khác biệt giữa ngân hàng số và ngân hàng kiến tạo số, thực trạng triển khai tại Việt Nam, cũng như những điểm nghẽn về chuẩn mực, dữ liệu và bảo mật đang cản trở quá trình phát triển của mô hình ngân hàng kiến tạo số…</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="89314">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/3aefd2ba0b3649268c63e700873c7d1c-89314.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89315">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/4525e35139e8429e8b629dd3b2b30850-89315.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89316" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/06e272e74a7b4cca8608916456f1ec20-89316.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Nếu như trước đây, ngành ngân hàng tập trung vào quá trình
tin học hóa, thì hiện nay trọng tâm đã chuyển sang số hóa toàn diện. Ở cấp độ
cao hơn, “ngân hàng kiến tạo số” không chỉ dừng lại ở việc số hóa hoạt động mà
còn hướng tới việc tạo ra các giá trị mới trên nền tảng sẵn có, thông qua kết nối
với các lĩnh vực khác để hình thành hệ sinh thái. Có thể hình dung tiến trình
này qua ba cấp độ: ngân hàng truyền thống, ngân hàng số và ngân hàng kiến tạo số.</p>
<p class="text-justify">Hệ thống ngân hàng Việt Nam hiện vẫn đang trong quá trình
chuyển đổi sang mô hình kiến tạo số nhưng chưa đạt sự đồng đều. Sự khác biệt thể
hiện ở nhiều khía cạnh, từ nền tảng công nghệ, nhận thức đến khả năng cung cấp
dịch vụ và tạo ra giá trị.</p>
<p class="text-justify">Một trong những yếu tố đáng chú ý là khung pháp lý và chính
sách đang trong quá trình hoàn thiện, hướng tới việc hình thành các quy chuẩn
chung phù hợp với yêu cầu phát triển của thị trường. Điển hình như mô hình ngân
hàng mở (Open Banking), nơi các tổ chức cần chia sẻ dữ liệu với đối tác và bên
thứ ba để phát triển dịch vụ. Trong bối cảnh đó, các ngân hàng đã chủ động xây
dựng tiêu chuẩn và giải pháp riêng, qua đó đặt ra yêu cầu tăng cường phối hợp
và thúc đẩy chuẩn hóa nhằm bảo đảm tính đồng bộ, đặc biệt trong các lĩnh vực
liên quan đến công nghệ và bảo mật.</p>
<p class="text-justify">Việc đánh giá xu hướng chủ đạo và mô hình nào thực sự có khả
năng “kiến tạo” tại Việt Nam hiện vẫn gặp khó khăn khi dữ liệu chưa thực sự đầy
đủ và đồng nhất. Do đó, năng lực chuyển đổi của ngân hàng phụ thuộc chủ yếu vào
nội lực, đặc biệt là nền tảng công nghệ và khả năng tổ chức triển khai. </p>
<p class="text-justify">Thực tế cho thấy, nhiều ngân hàng vẫn đang vận hành trên các
hệ thống core banking được triển khai từ nhiều năm trước, đòi hỏi lộ trình nâng
cấp phù hợp để đáp ứng các yêu cầu mới. Bên cạnh yếu tố công nghệ, sự phức tạp
trong việc xác định ưu tiên và cách thức triển khai cũng là nguyên nhân khiến
quá trình chuyển đổi diễn ra chậm và thiếu đồng bộ.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, chiến lược “đi tắt, đón đầu” trong chuyển đổi số
giúp rút ngắn lộ trình phát triển, nhưng cũng tiềm ẩn rủi ro khi bỏ qua các
giai đoạn tích lũy kinh nghiệm cần thiết. Điều này có thể dẫn đến những lỗ hổng
trong thiết kế hệ thống và quy trình, ảnh hưởng đến khả năng kiểm soát rủi ro.</p>
<p class="text-justify">Trong bối cảnh hiện nay, việc khẳng định dữ liệu là nền tảng
hay cần một chiến lược quản trị dữ liệu xuyên suốt là hoàn toàn đúng nhưng đã
trở nên quá chung chung. </p>
<p class="text-justify">Thực tiễn triển khai MyData tại Hàn Quốc là một ví
dụ điển hình về việc hiện thực hóa quyền sở hữu dữ liệu của cá nhân thông qua
cách tiếp cận lấy người dùng làm trung tâm, tổ chức hệ sinh thái theo từng trường
hợp sử dụng cụ thể, với vai trò và ràng buộc được xác định rõ ngay từ khâu thiết
kế.</p>
<p class="text-justify">Cụ thể, Hàn Quốc triển khai MyData theo mô hình cấp phép bắt
buộc, chia sẻ dữ liệu thông qua API chuẩn hóa và dựa trên consent cụ thể của
khách hàng. Trong mỗi kịch bản, vai trò giữa chủ thể dữ liệu, bên cung cấp dữ
liệu, đơn vị kinh doanh MyData, bên xử lý và bên thứ ba được phân định rõ, có
thể thay đổi theo mục đích xử lý. Các DPA (Data Processing Agreement - Thỏa thuận
xử lý dữ liệu) và DPIA (Data Protection Impact Assessment - Đánh giá tác động bảo
vệ dữ liệu) được áp dụng gắn với từng luồng dữ liệu nhằm kiểm soát rủi ro chuỗi
cung ứng và phân định trách nhiệm khi xảy ra sự cố.</p>
<p class="text-justify">Cách tiếp cận này cho thấy quản trị dữ liệu không còn là chiến
lược tổng quát, mà là năng lực vận hành cụ thể gắn với sản phẩm, đối tác và kịch
bản sử dụng dữ liệu”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89317">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/0c35446203f94559aa1d4b48a3293691-89317.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89318" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/9db791b7a1874ae8807349f3c6a090ed-89318.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Doanh nghiệp nhỏ và vừa (SMEs) chủ yếu là các doanh nghiệp
thâm dụng lao động hơn là thâm dụng vốn. Phần lớn chủ doanh nghiệp có nguồn lực
tài chính hạn chế, nên dựa nhiều vào sức lao động để duy trì hoạt động sản xuất
kinh doanh. Điều này lý giải vì sao quy mô của họ thường nhỏ, khó mở rộng và
khó phát triển thành doanh nghiệp lớn. Nguồn lực hỗ trợ từ bên ngoài vì vậy
cũng còn hạn chế, chưa đủ tạo động lực tăng trưởng, khiến nhiều doanh nghiệp
duy trì trạng thái manh mún trong thời gian dài.</p>
<p class="text-justify">Từ góc độ tiếp cận tín dụng của SMEs, có thể chỉ ra năm điểm
nghẽn chính. </p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> yêu cầu
về tài sản bảo đảm – điều kiện gần như bắt buộc trong cho vay truyền thống.
SMEs thường không sở hữu nhiều tài sản giá trị lớn; phần lớn phải thuê mặt bằng,
máy móc thiết bị đơn giản, giá trị thấp, nên bất lợi so với doanh nghiệp lớn.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> hạn chế về
minh bạch thông tin. Doanh nghiệp lớn thường có hệ thống kế toán, báo cáo tài
chính và kiểm toán đầy đủ, tạo dựng được độ tin cậy với ngân hàng. Ngược lại,
nhiều SMEs chưa có hệ thống quản trị bài bản, thậm chí thiếu bộ phận kế toán. Dữ
liệu tài chính không đầy đủ, thiếu lịch sử hoạt động rõ ràng khiến ngân hàng
khó đánh giá hiệu quả kinh doanh và mức độ rủi ro.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> khó chứng
minh dòng tiền. Trong trường hợp không có tài sản thế chấp, ngân hàng có thể
xem xét cho vay dựa trên dòng tiền. Tuy nhiên, SMEs thường thiếu hợp đồng đầu
vào – đầu ra rõ ràng, dòng tiền thiếu ổn định, khiến ngân hàng không đủ cơ sở để
kiểm soát và ra quyết định cấp tín dụng.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ tư,</i> mức độ rủi
ro cao. Do hạn chế về năng lực quản trị, nhiều doanh nghiệp nhỏ vận hành theo
mô hình “một người làm nhiều việc”, thiếu hệ thống kiểm soát rủi ro chuyên nghiệp.
Điều này làm gia tăng xác suất rủi ro, khiến các tổ chức tín dụng thận trọng
hơn khi cho vay.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ năm,</i> bài toán
chi phí của ngân hàng. Quy trình thẩm định, giám sát và thu hồi nợ đối với một
khoản vay nhỏ gần như tương đương với khoản vay lớn, trong khi lợi nhuận lại thấp
hơn đáng kể. Điều này khiến các ngân hàng ít “mặn mà” với phân khúc SMEs nếu vẫn
áp dụng mô hình tín dụng truyền thống.</p>
<p class="text-justify"><i>Bên cạnh đó,</i> ngân
hàng không chỉ hỗ trợ doanh nghiệp mà còn phải đảm bảo an toàn cho toàn hệ thống
tài chính. Nguồn vốn cho vay chủ yếu được huy động từ người dân, nên yêu cầu bảo
toàn vốn luôn được đặt lên hàng đầu. Các chuẩn mực quốc tế như Basel buộc ngân
hàng kiểm soát chặt rủi ro, khiến việc nới lỏng điều kiện tín dụng không thể thực
hiện một cách đơn giản. Việc áp dụng “thước đo chung” về tài sản bảo đảm, minh
bạch thông tin và quản trị rủi ro vì thế vô hình trung tạo lợi thế cho doanh
nghiệp lớn, đồng thời đặt SMEs vào thế bất lợi.</p>
<p class="text-justify">Để cải thiện khả năng tiếp cận vốn, cần có điều chỉnh từ cả
hai phía. Về phía ngân hàng, cần phát triển các phương thức cấp tín dụng linh
hoạt hơn, phù hợp với đặc thù của SMEs. Về phía doanh nghiệp, cần nâng cao năng
lực quản trị, minh bạch hóa thông tin và chuẩn hóa hoạt động để đáp ứng các
tiêu chí tín dụng.</p>
<p class="text-justify">Trong dài hạn, xu hướng chuyển dịch từ tín dụng dựa trên tài
sản thế chấp sang tín dụng dựa trên dữ liệu và dòng tiền được xem là tất yếu. Với
sự hỗ trợ của fintech, ngân hàng có thể khai thác dữ liệu từ nhiều nguồn như
giao dịch, thuế, chuỗi cung ứng… để đánh giá doanh nghiệp một cách toàn diện
hơn, thay vì phụ thuộc vào hồ sơ truyền thống. Mô hình này cho phép cấp vốn
linh hoạt theo nhu cầu thực tế, thậm chí theo từng giao dịch cụ thể, thay vì một
khoản vay lớn theo quy trình phức tạp. Tuy nhiên, để tham gia vào hệ sinh thái này,
SMEs cũng cần đẩy mạnh chuyển đổi số, đảm bảo dữ liệu minh bạch và sẵn sàng kết
nối.</p>
<p class="text-justify">Một công cụ quan trọng khác là quỹ bảo lãnh tín dụng. Đây là
cơ chế trung gian giúp giảm thiểu rủi ro cho ngân hàng, đồng thời tạo điều kiện
để doanh nghiệp không có tài sản bảo đảm tiếp cận vốn. Về nguyên tắc, quỹ sẽ
cam kết thanh toán thay trong trường hợp doanh nghiệp không trả được nợ, qua đó
gia tăng niềm tin của tổ chức tín dụng, đặc biệt với nhóm doanh nghiệp có hồ sơ
tài chính chưa đầy đủ hoặc năng lực quản trị còn hạn chế.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động của các quỹ bảo lãnh hiện vẫn
chưa đạt kỳ vọng. Nguyên nhân thứ nhất là quy mô vốn còn hạn chế, khiến khả
năng bảo lãnh bị thu hẹp và khó tạo niềm tin cho ngân hàng. Nguyên nhân thứ hai
là cơ chế vận hành còn mang nặng tính hành chính, thiếu linh hoạt và chưa theo
nguyên tắc thị trường, khiến hoạt động bảo lãnh chậm thích ứng với nhu cầu thực
tế và chưa tận dụng được các công cụ tài chính hiện đại.</p>
<p class="text-justify">Do đó, cần nâng cao năng lực tài chính và đổi mới cơ chế hoạt
động của các quỹ theo hướng thị trường, đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn, huy động
thêm nguồn lực từ khu vực tư nhân và áp dụng các công cụ như tái bảo lãnh, phân
tán rủi ro. Chỉ khi các quỹ đủ mạnh và vận hành hiệu quả, công cụ bảo lãnh mới
thực sự trở thành “đòn bẩy” giúp SMEs tiếp cận vốn.</p>
<p class="text-justify">Từ thực tế trên, để cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng của
SMEs, cần một cách tiếp cận đồng bộ: đổi mới phương thức cấp tín dụng, thúc đẩy
chuyển đổi số doanh nghiệp, hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả các
công cụ hỗ trợ. Chỉ khi đó, khu vực doanh nghiệp này mới có thể phát huy đầy đủ
vai trò là động lực quan trọng của nền kinh tế.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89319">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/d120ef74ce464933abc4f2cf6e93382f-89319.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89320" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/2abc1722f88b4311bf00d3b18fc79b87-89320.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Việc cơ quan thuế tăng cường quản lý hóa đơn đầu vào, đầu
ra, cùng với triển khai hóa đơn điện tử và siết chặt các hành vi mua bán hóa
đơn trong thời gian gần đây đã góp phần nâng cao rõ rệt tính minh bạch của
doanh nghiệp nhỏ và vừa. </p>
<p class="text-justify">Trước đây, tình trạng tồn tại nhiều hệ thống sổ sách khiến
thông tin tài chính thiếu độ tin cậy, trong khi cơ quan quản lý chủ yếu kiểm
soát hóa đơn đầu ra, dẫn đến khó phát hiện sai lệch ở đầu vào.</p>
<p class="text-justify">Khi mức độ minh bạch được cải thiện, chi phí thẩm định của
ngân hàng giảm đáng kể, qua đó tạo điều kiện mở rộng tín dụng tới khu vực doanh
nghiệp nhỏ và vừa. Trong bối cảnh đó, các nền tảng fintech đóng vai trò trung
gian, cung cấp hạ tầng dữ liệu giúp doanh nghiệp kê khai, hạch toán và tuân thủ
tốt hơn, đồng thời tối ưu chi phí vận hành. Đối với ngân hàng, đây là nguồn dữ
liệu có cấu trúc, giúp nâng cao hiệu quả đánh giá tín dụng, rút ngắn quy trình
thẩm định và tạo dư địa giảm lãi suất cho vay.</p>
<p class="text-justify">Thông qua phần mềm kế toán, toàn bộ chứng từ, hồ sơ pháp lý
và hợp đồng được số hóa và lưu trữ tập trung. Doanh nghiệp có toàn quyền quyết
định việc chia sẻ dữ liệu, có thể cung cấp toàn bộ hoặc lựa chọn từng phần theo
yêu cầu của ngân hàng. Dù vậy, nếu chia sẻ theo từng phần, doanh nghiệp có thể
phát sinh thêm chi phí thời gian do khối lượng chứng từ lớn.</p>
<p class="text-justify">Ở góc độ nền tảng, hệ thống đóng vai trò như một kho dữ liệu
số, cho phép lưu trữ và kết nối toàn bộ thông tin tài chính – kế toán. Khi được
doanh nghiệp chấp thuận, dữ liệu có thể được tự động chia sẻ tới các bên liên
quan, giảm thiểu thao tác thủ công. Nhờ tính liên kết và chuẩn hóa, ngân hàng
có thể dễ dàng truy xuất, thậm chí tiến tới tự động hóa quy trình thẩm định,
bao gồm ứng dụng AI.</p>
<p class="text-justify">Chẳng hạn, với dữ liệu hàng tồn kho, hệ thống có thể ngay lập
tức xác định nguồn gốc, hóa đơn và trạng thái thanh toán, qua đó nâng cao độ
tin cậy nếu được sử dụng làm cơ sở cấp tín dụng. </p>
<p class="text-justify">Về phía doanh nghiệp, việc số hóa chứng từ kết hợp với dịch
vụ kế toán bên ngoài giúp đơn giản hóa vận hành, cho phép tập trung nguồn lực
vào hoạt động kinh doanh cốt lõi”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89321">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/f96bb19f9af14eda81dcf8ed239dd4f9-89321.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89322" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/e90dea56d59a43e58e12e01e0c1b30e5-89322.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số trong những năm gần
đây đã thúc đẩy ngành ngân hàng đổi mới mô hình hoạt động. Trong bối cảnh đó,
“ngân hàng kiến tạo số” được xem là cấp độ phát triển cao hơn của ngân hàng số.
Nếu ngân hàng số chủ yếu tập trung vào số hóa sản phẩm, dịch vụ và tối ưu trải
nghiệm khách hàng, thì ngân hàng kiến tạo số mở rộng vai trò sang một hướng tiếp
cận toàn diện hơn. Ngân hàng không chỉ cung cấp dịch vụ mà còn tham gia sâu vào
quá trình hỗ trợ doanh nghiệp phát triển thông qua xây dựng hệ sinh thái số,
khai thác dữ liệu và cung cấp công cụ ra quyết định.</p>
<p class="text-justify">Nhờ hệ thống dữ liệu lớn và các nền tảng công nghệ tích hợp,
ngân hàng có thể giúp doanh nghiệp tiếp cận thông tin thị trường, khách hàng, đối
tác và cơ hội đầu tư một cách hiệu quả hơn. Qua đó, mô hình này không chỉ nâng
cao chất lượng dịch vụ mà còn góp phần giảm thiểu rủi ro và thúc đẩy tăng trưởng.</p>
<p class="text-justify">Về cấu trúc, ngân hàng kiến tạo số thường được hình thành
trên ba nền tảng chính. <i>Một là,</i> nền tảng
ngân hàng (banking platform), đóng vai trò trung tâm kết nối dịch vụ và dữ liệu,
cho phép doanh nghiệp tiếp cận toàn diện các công cụ phục vụ hoạt động kinh
doanh. Không chỉ dừng lại ở tín dụng hay thanh toán, nền tảng này còn cung cấp
dữ liệu về khách hàng, sản phẩm và thị trường, hỗ trợ doanh nghiệp định hướng
chiến lược.</p>
<p class="text-justify"><i>Hai là,</i> mô hình
ngân hàng mở (open banking) kết hợp với API, cho phép chia sẻ dữ liệu giữa ngân
hàng với doanh nghiệp và các công ty fintech. Nhờ đó, ngân hàng chuyển từ một hệ
thống khép kín sang vai trò cung cấp dịch vụ nền tảng (Banking as a Service),
góp phần hình thành hệ sinh thái liên kết.</p>
<p class="text-justify"><i>Ba là,</i> các ứng dụng
tích hợp (siêu ứng dụng) và tài chính nhúng, cho phép tích hợp dịch vụ tài
chính trực tiếp vào các nền tảng kinh doanh, tạo trải nghiệm liền mạch và giúp
doanh nghiệp tiết kiệm chi phí vận hành.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, việc triển khai mô hình này tại Việt Nam vẫn đối
mặt với nhiều thách thức. <i>Thứ nhất,</i>
thách thức công nghệ, khi việc xây dựng và quản trị dữ liệu đòi hỏi hạ tầng hiện
đại cùng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt về bảo mật và an toàn thông tin, trong khi
việc áp dụng trên thực tế chưa đồng bộ.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> yếu tố
con người cũng là rào cản lớn. Ngân hàng không chỉ cần nhân sự am hiểu công nghệ
mà còn phải có nền tảng tài chính và khả năng tư vấn, đồng hành cùng doanh nghiệp.
Điều này đòi hỏi thay đổi tư duy và văn hóa tổ chức, từ cách tiếp cận truyền thống
sang định hướng chủ động hỗ trợ phát triển.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> hành lang
pháp lý chưa theo kịp. Các vấn đề như chia sẻ dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư
hay ranh giới giữa “hỗ trợ” và “can thiệp” vào hoạt động doanh nghiệp vẫn chưa
rõ ràng, làm chậm quá trình hợp tác và tiềm ẩn rủi ro pháp lý.</p>
<p class="text-justify">Ở góc độ doanh nghiệp, ngân hàng kiến tạo số mang lại nhiều
lợi ích thiết thực. Trước hết là khả năng tiếp cận vốn được cải thiện nhờ
phương thức đánh giá dựa trên dữ liệu thực tế thay vì chỉ dựa vào tài sản bảo đảm.
Việc thẩm định không còn phụ thuộc vào hồ sơ tĩnh mà dựa trên dữ liệu liên tục,
đa chiều, giúp đánh giá sát thực hơn.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, doanh nghiệp còn được hưởng lợi từ hệ sinh thái
dữ liệu và mạng lưới kết nối do ngân hàng cung cấp. Thông qua việc khai thác dữ
liệu khách hàng và thông tin thị trường, doanh nghiệp có thể tìm kiếm đối tác,
mở rộng hợp tác và nâng cao hiệu quả hoạt động. Ngân hàng cũng có thể hỗ trợ
trong quản trị dòng tiền, tối ưu danh mục đầu tư và xây dựng chiến lược phát
triển dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, để tham gia vào hệ sinh thái này, doanh nghiệp cần
đáp ứng những điều kiện nhất định. Phần lớn SMEs hiện vẫn hạn chế về nguồn lực,
năng lực quản trị và khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn công nghệ. Trong khi đó,
mô hình ngân hàng kiến tạo số vận hành dựa trên nền tảng dữ liệu và kết nối hệ
thống, đòi hỏi doanh nghiệp phải có hạ tầng công nghệ, dữ liệu được số hóa và
khả năng chia sẻ thông tin.</p>
<p class="text-justify">Việc áp dụng đồng loạt các tiêu chuẩn này ngay từ đầu có thể
trở thành rào cản. Do đó, cần cách tiếp cận linh hoạt hơn, như triển khai thí
điểm với nhóm doanh nghiệp đủ điều kiện, từ đó hoàn thiện mô hình và mở rộng dần.</p>
<p class="text-justify">Trong bối cảnh Việt Nam thúc đẩy chuyển đổi số, việc hoàn
thiện chính sách cho ngân hàng kiến tạo số là yêu cầu cấp thiết. Trước hết, cần
triển khai cơ chế thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) để đánh giá và hoàn thiện
mô hình. Đồng thời, cần phát triển nguồn nhân lực số, đầu tư hạ tầng công nghệ
và xây dựng các tiêu chuẩn kết nối chung.</p>
<p class="text-justify">Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo trong việc xây dựng hạ tầng
dùng chung, tạo điều kiện để doanh nghiệp tích hợp hệ thống và tham gia sâu hơn
vào hệ sinh thái số, đặc biệt là hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và siêu nhỏ tiếp cận
công nghệ ban đầu”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89323">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/3c1077be291047d38e4f003caa5e2f30-89323.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 10">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89324" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/a0ce4cd026154bbea9e8e6f51550addd-89324.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 11">
</figure>
<p class="text-justify">“Thực tế, khái niệm “ngân hàng số” và “ngân hàng kiến tạo số”
không chỉ là sự khác biệt về thuật ngữ mà phản ánh hai cấp độ phát triển hoàn
toàn khác nhau của hệ thống ngân hàng. Ngân hàng số, theo cách hiểu phổ biến,
là việc ứng dụng công nghệ nhằm số hóa các sản phẩm, dịch vụ và quy trình vận
hành truyền thống. Ở mô hình này, ngân hàng chủ yếu đóng vai trò là nhà cung cấp
dịch vụ tài chính, từ tín dụng, thanh toán đến các tiện ích số, phục vụ nhu cầu
của cá nhân và doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, ngân hàng kiến tạo số thể hiện một bước tiến
mang tính cấu trúc. Không còn dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ, ngân hàng bắt đầu
khai thác sâu giá trị của dữ liệu và công nghệ để xây dựng các nền tảng mở.
Trên các nền tảng này, doanh nghiệp, đối tác và các công ty fintech có thể kết
nối, tương tác và cùng tham gia vào một hệ sinh thái chung. Khi đó, ngân hàng
trở thành một mắt xích trong chuỗi giá trị, trực tiếp góp phần tạo ra giá trị
cho doanh nghiệp, thay vì chỉ đứng bên ngoài hỗ trợ. </p>
<p class="text-justify">Việt Nam hiện đang ở ngưỡng chuyển giao từ ngân hàng số sang
ngân hàng kiến tạo số. Theo đó, một số tổ chức tài chính đã bắt đầu phát triển
mô hình “platform banking”, cho phép tích hợp hệ thống ngân hàng với hệ thống
quản trị doanh nghiệp như ERP thông qua API. </p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, ranh giới giữa hai mô hình này không nằm ở công
nghệ, mà ở mức độ tham gia của ngân hàng vào hoạt động cốt lõi của doanh nghiệp,
đặc biệt trong việc cung cấp dữ liệu và hỗ trợ ra quyết định. Khi ngân hàng
tham gia sâu hơn, giá trị mang lại có thể rất lớn, nhưng đồng thời cũng kéo
theo những rủi ro không nhỏ, nhất là khi ranh giới giữa “hỗ trợ” và “can thiệp”
trở nên mong manh.</p>
<p class="text-justify">Để kiểm soát vấn đề này, cần thiết lập những nguyên tắc nền
tảng. Trước hết, quyền kiểm soát dữ liệu phải thuộc về doanh nghiệp. Ngân hàng
có thể cung cấp hạ tầng, công cụ và dữ liệu phân tích, nhưng không thay thế vai
trò ra quyết định. Tiếp theo, tính minh bạch trong sử dụng dữ liệu cần được đảm
bảo, bao gồm phạm vi chia sẻ, mục đích sử dụng và trách nhiệm khi xảy ra sự cố.
Cuối cùng, bảo mật phải là điều kiện tiên quyết, bởi khi dữ liệu lan tỏa trong
toàn hệ sinh thái, chỉ một lỗ hổng nhỏ cũng có thể gây ra rủi ro diện rộng.</p>
<p class="text-justify">Xét từ góc độ doanh nghiệp công nghệ, thách thức lớn nhất hiện
nay không hoàn toàn là công nghệ mà là niềm tin. Cả ngân hàng và doanh nghiệp vẫn
còn dè dặt trong việc chia sẻ dữ liệu do lo ngại về an toàn thông tin và trách
nhiệm pháp lý, khiến quá trình kết nối và khai thác dữ liệu chưa đạt độ sâu cần
thiết. </p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, vấn đề chuẩn hóa kỹ thuật, đặc biệt là API,
cũng là một điểm nghẽn đáng kể. Việc thiếu một bộ tiêu chuẩn chung khiến mỗi
ngân hàng triển khai một kiểu, buộc doanh nghiệp phải đầu tư nguồn lực lớn để
tích hợp riêng lẻ, đặc biệt bất lợi với SMEs.</p>
<p class="text-justify">Ngoài ra, năng lực bảo mật của nhiều ngân hàng chưa theo kịp
tốc độ mở rộng hệ sinh thái, dẫn đến tâm lý thận trọng, thậm chí trì hoãn triển
khai các mô hình mới. </p>
<p class="text-justify">Ở chiều ngược lại, doanh nghiệp cũng cần nâng cao năng lực bảo
mật, quản trị dữ liệu và tuân thủ quy trình an toàn thông tin khi tham gia vào
các nền tảng kết nối. Đây là điều kiện cần để xây dựng niềm tin hai chiều – yếu
tố cốt lõi của mọi mô hình hợp tác dựa trên dữ liệu.</p>
<p class="text-justify">Về mặt pháp lý, việc hoàn thiện khung khổ quản lý là yêu cầu
cấp thiết. Trước hết, cần xây dựng hệ thống quy định rõ ràng về chia sẻ dữ liệu,
làm rõ quyền sở hữu dữ liệu và trách nhiệm của các bên khi tham gia trao đổi
thông tin. Đây là nền tảng để tạo dựng niềm tin trong hệ sinh thái.</p>
<p class="text-justify">Song song, cần thiết lập các tiêu chuẩn chung cho Open API
nhằm đảm bảo tính đồng bộ và khả năng mở rộng. Cơ quan quản lý nhà nước cần làm
tốt vai trò điều phối, không để các tổ chức tự phát triển riêng lẻ. Bên cạnh
đó, quản lý rủi ro từ bên thứ ba cũng cần được chú trọng thông qua các cơ chế
giám sát và đánh giá an toàn thông tin.</p>
<p class="text-justify">An ninh mạng và an ninh dữ liệu cần được đặt ở vị trí trung
tâm. Các tổ chức cần triển khai hệ thống giám sát theo thời gian thực để phát
hiện và xử lý sự cố kịp thời, đồng thời áp dụng nguyên tắc “bảo mật ngay từ thiết
kế” (security by design). Việc bổ sung giải pháp bảo mật sau khi hệ thống đã vận
hành không chỉ kém hiệu quả mà còn tiềm ẩn nhiều chi phí và rủi ro tái cấu trúc”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="89325">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/12/b2a8f89bd43044b789d9cc8a24ec7fc1-89325.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 12">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18<span> </span><a href="tel:+19-2026">+19-2026</a><span> </span>phát hành ngày 11/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-06-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.htm</a></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="88550">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/09/6ac409c36dbe44109d830c3d836ace20-88550.png" alt="Ngân hàng kiến tạo số khơi thông tín dụng cho SMEs - Ảnh 13">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững</title><description>Để chuyển h#243;a lợi thế th#224;nh d#242;ng vốn đầu tư trực tiếp nước ngo#224;i (FDI) chất lượng cao v#224; tăng trưởng d#224;i hạn, Việt Nam cần tiếp tục th#225;o gỡ c#225;c n#250;t thắt về thủ tục h#224;nh ch#237;nh, t#237;nh nhất qu#225;n trong thực thi ch#237;nh s#225;ch, hạ tầng năng lượng, chất lượng nguồn nh#226;n lực v#224; khung ph#225;p l#253; cho c#225;c lĩnh vực mới...</description><pubDate>Wed, 13 May 2026 01:00:08 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/cai-cach-manh-hon-de-bien-co-hoi-fdi-thanh-tang-truong-ben-vung.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/cai-cach-manh-hon-de-bien-co-hoi-fdi-thanh-tang-truong-ben-vung.htm</guid><atom:link href="/cai-cach-manh-hon-de-bien-co-hoi-fdi-thanh-tang-truong-ben-vung.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/2ff4f115fbd54d95b8aa68a43bc85342-88933.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Để chuyển hóa lợi thế thành dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chất lượng cao và tăng trưởng dài hạn, Việt Nam cần tiếp tục tháo gỡ các nút thắt về thủ tục hành chính, tính nhất quán trong thực thi chính sách, hạ tầng năng lượng, chất lượng nguồn nhân lực và khung pháp lý cho các lĩnh vực mới...</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="88918">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/60702f85b3cc445d81b99e0b4f4ea75a-88918.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88919">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/9b9ff042ffe54f6bbe4833a30cac2027-88919.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88920" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/e72226fff96349229f0d1714ee6562fd-88920.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều biến động, từ căng thẳng
địa chính trị giữa các nền kinh tế lớn đến bất ổn tại Trung Đông, Việt Nam vẫn
duy trì được lợi thế về ổn định chính trị - xã hội. Yếu tố này đang giúp Việt
Nam trở thành điểm đến đáng tin cậy, thu hút sự quan tâm ngày càng lớn từ các
nhà đầu tư Nhật Bản, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao và sản xuất giá
trị gia tăng.</p>
<p class="text-justify">Theo khảo sát mới nhất của Tổ chức Xúc tiến Thương mại Nhật
Bản (JETRO),  67,5% doanh nghiệp Nhật Bản
tại Việt Nam ghi nhận có lãi trong năm 2025, trong khi 56,9% doanh nghiệp cho
biết có kế hoạch mở rộng hoạt động kinh doanh trong vòng 1-2 năm tới. Những con
số này cho thấy hiệu quả hoạt động tích cực của doanh nghiệp Nhật Bản cũng như
niềm tin mạnh mẽ vào triển vọng tăng trưởng của Việt Nam trong thời gian tới.</p>
<p class="text-justify">Từ góc nhìn của nhà đầu tư, những lợi thế nổi bật của Việt
Nam hiện nay bao gồm quy mô thị trường lớn, tiềm năng tăng trưởng cao, chi phí
lao động cạnh tranh và môi trường chính trị - xã hội ổn định. Bên cạnh đó, việc
Việt Nam tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới với mức độ tự do
hóa sâu rộng cũng góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi cung ứng
toàn cầu.</p>
<p class="text-justify">Không chỉ dừng lại ở vai trò là một cứ điểm sản xuất chi phí
thấp, Việt Nam đang từng bước chuyển mình trở thành một trung tâm chiến lược kết
hợp giữa sản xuất, tiêu dùng và đổi mới sáng tạo. Cơ hội đang mở rộng trong các
lĩnh vực như công nghệ cao, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh - những lĩnh vực đặc
biệt thu hút sự quan tâm của các nhà đầu tư Nhật Bản.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, bên cạnh triển vọng tích cực, các doanh nghiệp Nhật
Bản tại Việt Nam vẫn đang đối mặt với một số thách thức đáng lưu ý.</p>
<p class="text-justify"><i>Một là,</i> thủ tục
hành chính và các vấn đề thể chế vẫn là mối quan tâm lớn. Khảo sát cho thấy “thủ
tục hành chính phức tạp” và “thiếu minh bạch trong hệ thống pháp lý cũng như
quá trình thực thi” là những rủi ro hàng đầu đối với doanh nghiệp. Nhiều doanh
nghiệp gặp khó khăn do quy trình thủ tục kéo dài, cách hiểu và áp dụng quy định
chưa thống nhất giữa Trung ương và địa phương, trong khi chính sách thay đổi
tương đối thường xuyên nhưng thiếu tính dự báo.</p>
<p class="text-justify"><i>Hai là,</i> hạn chế về
nguồn nhân lực đang ngày càng trở nên rõ nét. Khoảng một nửa số doanh nghiệp Nhật
Bản cho biết gặp khó khăn trong tuyển dụng lao động, đặc biệt trong lĩnh vực sản
xuất, nhất là tại khu vực phía Bắc. Tình trạng thiếu hụt quản lý cấp trung, kỹ
sư và lao động lành nghề đang trở nên nghiêm trọng hơn.</p>
<p class="text-justify"><i>Ba là,</i> áp lực chi
phí gia tăng cùng mức độ cạnh tranh ngày càng gay gắt. Các doanh nghiệp Nhật Bản
không chỉ cạnh tranh với doanh nghiệp trong nước mà còn chịu áp lực từ các nhà
đầu tư nước ngoài khác. Khoảng 30% doanh nghiệp sản xuất Nhật Bản coi các doanh
nghiệp FDI đến từ các quốc gia lân cận là đối thủ cạnh tranh chính.</p>
<p class="text-justify"><i>Bốn là,</i> hạ tầng và
nguồn cung năng lượng vẫn là những lĩnh vực cần tiếp tục cải thiện. Mặc dù Việt
Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong phát triển hạ tầng, song vẫn còn tồn tại những
thách thức liên quan đến hiệu quả logistics và sự ổn định của nguồn điện, đặc
biệt tại một số khu vực.</p>
<p class="text-justify">Những vấn đề trên phản ánh quá trình chuyển đổi của Việt Nam
sang một nền kinh tế có trình độ phát triển và năng lực cạnh tranh cao hơn. Để tiếp
tục nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút dòng vốn đầu tư chất lượng cao từ
Nhật Bản, Việt Nam cần chú trọng một số ưu tiên sau:</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> cần tăng
cường tính minh bạch và khả năng dự báo của khung pháp lý và hệ thống quy định.
Việc bảo đảm thực thi nhất quán giữa các địa phương, ban hành hướng dẫn rõ ràng
và duy trì cơ chế đối thoại hiệu quả giữa Nhà nước với doanh nghiệp sẽ góp phần
củng cố niềm tin của nhà đầu tư.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> cần tiếp
tục đẩy mạnh cải cách hành chính. Trên cơ sở các sáng kiến như Đề án 06, việc
đơn giản hóa và số hóa thủ tục, tích hợp toàn diện các quy trình trực tuyến và
giảm phụ thuộc vào giấy tờ sẽ mang lại lợi ích thiết thực cho cộng đồng doanh
nghiệp.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> phát triển
nguồn nhân lực cần được xác định là ưu tiên trọng tâm. Việc tăng cường giáo dục,
đào tạo nghề và thúc đẩy hợp tác giữa doanh nghiệp với các cơ sở đào tạo sẽ góp
phần giải quyết tình trạng thiếu hụt lao động chất lượng cao, đồng thời hỗ trợ
quá trình chuyển dịch sang các ngành có giá trị gia tăng cao hơn.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ tư,</i> tiếp tục cải
thiện hạ tầng và bảo đảm nguồn cung năng lượng ổn định là yếu tố then chốt. Việc
bảo đảm nguồn điện ổn định, bền vững, cùng với đẩy nhanh phát triển hạ tầng
giao thông và logistics sẽ góp phần nâng cao sức cạnh tranh của Việt Nam với tư
cách là một điểm đến đầu tư hấp dẫn.</p>
<p class="text-justify">Ngoài ra, việc thúc đẩy đầu tư vào các lĩnh vực mới như công
nghệ cao, chuyển đổi số, năng lượng xanh và nâng cấp chuỗi cung ứng cũng sẽ
giúp Việt Nam thu hút hiệu quả hơn dòng vốn chất lượng cao từ Nhật Bản.</p>
<p class="text-justify">Nhật Bản tiếp tục coi Việt Nam là đối tác quan trọng và là
điểm đến đầu tư dài hạn đầy tiềm năng. Hiệu quả hoạt động cũng như kế hoạch mở
rộng của các doanh nghiệp Nhật Bản là minh chứng rõ ràng cho niềm tin này. Đồng
thời, việc giải quyết các thách thức còn tồn tại thông qua cải cách liên tục sẽ
là yếu tố then chốt để Việt Nam phát huy tối đa tiềm năng phát triển.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi tin tưởng rằng, với sự phối hợp chặt chẽ giữa
Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp, Việt Nam sẽ tiếp tục hướng tới tăng trưởng
bền vững, chất lượng cao, qua đó mang lại lợi ích chung cho cả hai quốc gia”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88921">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/3a6136b3eda94b388e5becdc02150aaf-88921.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88922" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/d0a719d77ab64ed0b9e7d597a938d531-88922.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Những năm gần đây, Việt Nam đã đạt được nhiều tiến triển
trong cải cách môi trường đầu tư, kinh doanh, qua đó tạo hiệu ứng tích cực đối
với các doanh nghiệp Singapore đang hoạt động tại Việt Nam. Cam kết cải cách của
Chính phủ được thể hiện thông qua việc đẩy mạnh đơn giản hóa thủ tục hành
chính, cắt giảm điều kiện kinh doanh không cần thiết và nâng cao tính minh bạch
trong quá trình thực thi chính sách.</p>
<p class="text-justify">Đặc biệt, việc triển khai Luật Đầu tư 2025 và Luật Doanh
nghiệp 2025 đã góp phần tạo dựng một khung pháp lý rõ ràng và có tính dự báo
cao hơn đối với các nhà đầu tư nước ngoài, qua đó củng cố niềm tin cho các
doanh nghiệp Singapore khi gia nhập hoặc mở rộng hoạt động tại thị trường Việt
Nam.</p>
<p class="text-justify">Phát triển cơ sở hạ tầng cũng là một trong những trụ cột
quan trọng trong tiến trình cải cách của Việt Nam thời gian gần đây. Việc nâng
cấp mạng lưới giao thông, logistics và hạ tầng số đã giúp tăng cường kết nối giữa
các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời hỗ trợ chuỗi cung ứng vận hành hiệu quả
hơn. Nhờ đó, nhiều doanh nghiệp Singapore trong lĩnh vực logistics, sản xuất và
công nghệ đã tận dụng tốt vị trí chiến lược của Việt Nam trong ASEAN cũng như
tiềm năng của thị trường nội địa đang tăng trưởng mạnh.</p>
<p class="text-justify">Việt Nam cũng đã triển khai các cải cách thể chế quan trọng:
sắp xếp, tổ chức lại các đơn vị hành chính và cơ quan quản lý nhà nước thông
qua sáp nhập phường, huyện, tỉnh và một số bộ, ngành. Những thay đổi này được kỳ
vọng sẽ nâng cao hiệu quả quản lý hành chính và cải thiện thủ tục, qua đó hỗ trợ
tốt hơn cho hoạt động đầu tư, kinh doanh của doanh nghiệp, trong đó có các
doanh nghiệp Singapore.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, các doanh nghiệp Singapore vẫn đang đối mặt với một
số thách thức trong quá trình hoạt động và mở rộng kinh doanh tại Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Rào cản lớn nhất vẫn là thủ tục hành chính và sự thiếu nhất
quán trong thực thi quy định tại nhiều ngành và địa phương. Việc áp dụng chính
sách ở cấp địa phương còn có sự khác biệt, dẫn tới chậm trễ, thiếu chắc chắn và
làm gia tăng chi phí tuân thủ đối với các nhà đầu tư nước ngoài. Để xử lý những
vấn đề này, doanh nghiệp thường phải dành nguồn lực đáng kể cũng như phụ thuộc
nhiều vào các đối tác địa phương, đặc biệt gây khó khăn đối với các doanh nghiệp
nhỏ và vừa của Singapore.</p>
<p class="text-justify">Đoanh nghiệp Singapore vẫn gặp khó khăn trong tiếp cận thị
trường, nhất là ở những lĩnh vực còn hạn chế tỷ lệ sở hữu nước ngoài hoặc có
quy trình cấp phép kéo dài và thiếu minh bạch. Việc tiếp cận đất đai và giấy
phép đầu tư cũng là trở ngại đối với kế hoạch mở rộng kinh doanh. Môi trường cạnh
tranh tại Việt Nam đang thay đổi nhanh chóng với sự phát triển ngày càng mạnh
và linh hoạt của doanh nghiệp trong nước, buộc các doanh nghiệp nước ngoài phải
liên tục đổi mới và thích ứng.</p>
<p class="text-justify">Mặc dù khung pháp lý về hoạt động MA đã tương đối rõ
ràng, quá trình phê duyệt trên thực tế vẫn còn nhiều vướng mắc và thiếu tính thống
nhất. Việt Nam cần tiếp tục đơn giản hóa thủ tục và hoàn thiện hướng dẫn thực
thi nhằm nâng cao tính minh bạch, khả năng dự báo và hiệu quả của khung pháp lý
đối với hoạt động MA.</p>
<p class="text-justify">Trong lĩnh vực năng lượng, các nhà đầu tư vẫn gặp nhiều khó
khăn liên quan đến thủ tục cấp phép và sự thiếu rõ ràng trong quy định về năng
lượng tái tạo. Dù Việt Nam đặt mục tiêu phát triển năng lượng sạch đầy tham vọng,
các thủ tục phức tạp và thiếu nhất quán vẫn làm chậm quá trình triển khai dự
án, đặc biệt đối với điện mặt trời mái nhà. Sự khác biệt trong cách hiểu của
các cơ quan quản lý, các yêu cầu chưa rõ ràng và thiếu hướng dẫn chi tiết về
phí cũng như khung giá trong cơ chế Hợp đồng mua bán điện trực tiếp (DPPA) đang
khiến nhiều doanh nghiệp thận trọng hơn với các kế hoạch đầu tư dài hạn. Những
vấn đề này tiếp tục là rào cản đối với dòng vốn nước ngoài vào quá trình chuyển
đổi năng lượng sạch của Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Để nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh và sức hấp dẫn đối với
dòng vốn chất lượng cao từ Singapore, Việt Nam cần xem xét triển khai bốn nhóm
giải pháp trọng tâm.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> tiếp tục
đơn giản hóa thủ tục hành chính và xây dựng khung quy định minh bạch, thống nhất
giữa các địa phương nhằm giảm rủi ro và chi phí cho nhà đầu tư. Việc mở rộng
chính phủ số và các cổng dịch vụ công trực tuyến đồng bộ cũng sẽ góp phần nâng
cao hiệu quả và tính minh bạch của môi trường kinh doanh.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> nâng cao
tính minh bạch và khả năng dự báo của hệ thống pháp lý và quy định. Việc duy
trì tham vấn thường xuyên với cộng đồng doanh nghiệp, công khai dự thảo chính
sách và xây dựng cơ chế phản hồi hiệu quả sẽ giúp củng cố niềm tin của nhà đầu
tư nước ngoài. Đồng thời, nâng cao năng lực của các cơ chế giải quyết tranh chấp
cũng là yếu tố quan trọng.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> Việt Nam cần
ưu tiên các chính sách thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và đầu
tư bền vững. Việc hỗ trợ hoạt động RD, startup và hợp tác công – tư trong
các lĩnh vực như chuyển đổi số, năng lượng tái tạo và sản xuất thông minh sẽ
giúp Việt Nam nâng cao vị thế trong các ngành công nghiệp tương lai, đồng thời
đáp ứng tốt hơn kỳ vọng của các nhà đầu tư chất lượng cao.</p>
<p class="text-justify">Thứ tư, sáng kiến xây dựng Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC)
cho thấy Việt Nam đang hướng tới vai trò là trung tâm vốn và dịch vụ tài chính
của khu vực, thay vì chỉ là điểm đến sản xuất. Việt Nam nên tiếp tục phát triển
mô hình này như một “sandbox pháp lý” nhằm thúc đẩy đổi mới tài chính, thu hút
dòng vốn dài hạn chất lượng cao và phát triển sâu hơn thị trường vốn trong nước,
qua đó mở rộng cơ hội tiếp cận cho cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư quốc tế”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88923">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/46cc6978975342d880c450268454e2b8-88923.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88924" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/d61b725ae1934253a060affdf0bd46f1-88924.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Khởi đầu năm 2026 diễn ra hết sức sôi động, với dấu mốc
quan trọng là việc nâng cấp quan hệ Việt Nam – EU lên Đối tác Chiến lược toàn
diện trong chuyến thăm Việt Nam của Chủ tịch Hội đồng châu Âu António Costa vào
tháng 1/2026. Ngay sau đó là Diễn đàn Doanh nghiệp và Đầu tư Global Gateway
cùng Cao ủy Sikela vào tháng 3/2026, nơi các cam kết đầu tư trị giá hàng tỷ eur
đã chuyển từ đối thoại sang hành động cụ thể.</p>
<p class="text-justify">Đối với các doanh nghiệp châu Âu, việc Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Tô Lâm tiếp tục giữ vai trò lãnh đạo mang lại yếu tố mà doanh nghiệp coi
trọng hơn bất kỳ điều gì khác: sự ổn định. Tuy nhiên, sự ổn định cần đi cùng với
tính linh hoạt và khả năng thích ứng nhanh. </p>
<p class="text-justify">Hiện nay, chúng tôi đang chứng kiến sự chuyển dịch mạnh mẽ của
Chính phủ theo hướng “hiệu quả hệ thống”. Đợt cải cách mới nhất nhằm cắt giảm
184 thủ tục hành chính và 890 điều kiện kinh doanh không đơn thuần là thay đổi
chính sách, mà mở ra cơ hội để tháo gỡ những nút thắt hành chính vốn gây khó
khăn cho doanh nghiệp tại Việt Nam trong nhiều năm qua.</p>
<p class="text-justify">Để hình dung rõ hơn, mỗi thủ tục hành chính “nhỏ” đều mang
theo những chi phí ẩn. Các đánh giá tác động cho thấy nếu 5 triệu người chỉ mất
1,5 giờ cho một quy trình không cần thiết, xã hội sẽ mất tới 7,5 triệu giờ lao
động, tương đương hơn 200 tỷ đồng. Khi nhân con số này trên quy mô lực lượng
lao động của Việt Nam, chi phí sẽ tăng theo cấp số nhân. Do đó, khi các bộ,
ngành chỉ còn xử lý tối đa 30% tổng số thủ tục và hướng tới mục tiêu giảm 50%
chi phí, thời gian tuân thủ vào cuối năm 2026, Việt Nam sẽ có cơ hội đưa nguồn
lực trở lại khu vực tư nhân và phân bổ nguồn lực hiệu quả hơn cho nền kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Tất nhiên, chúng ta cũng không thể bỏ qua những biến động địa
chính trị đang diễn ra xung quanh. Tuy nhiên, những dữ liệu mới nhất cho thấy một
điều đáng chú ý: Việt Nam vẫn đang nổi bật. Chỉ số Niềm tin kinh doanh (BCI)
quý 1/2026 của EuroCham ghi nhận mức 72,7 điểm, cao hơn đáng kể so với mức
trung bình của 6 năm qua. Đặc biệt, có tới 93% doanh nghiệp thành viên cho biết
sẵn sàng giới thiệu Việt Nam là điểm đến đầu tư. Đó là tín hiệu rất mạnh mẽ cho
thấy bất chấp những biến động toàn cầu, Việt Nam vẫn duy trì sức hấp dẫn đặc biệt
đối với dòng vốn FDI. </p>
<p class="text-justify">Đối với các doanh nghiệp châu Âu, sự ổn định vẫn là yếu tố
then chốt, nhưng điều mà họ tìm kiếm không phải là nơi không có biến động, mà
là nơi biết cách hành động quyết đoán khi sóng gió xuất hiện. Theo kết quả khảo
sát BCI, triển vọng dài hạn của Việt Nam vẫn rất tích cực.</p>
<p class="text-justify">Dù cơ hội tại Việt Nam vẫn rất lớn, việc chuyển hóa những cơ
hội đó thành các hợp đồng ký kết và doanh thu thực tế đang mất nhiều thời gian
hơn và tốn kém hơn so với kỳ vọng vào cuối năm 2025.</p>
<p class="text-justify">Chúng ta đã bước qua giai đoạn chỉ đơn thuần “mở cửa” đón
FDI. Các nhà đầu tư không còn hỏi: Liệu họ có thể vào Việt Nam hay không? mà hỏi:
Liệu họ có thể vận hành hiệu quả sau khi đã vào Việt Nam hay chưa?</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, báo cáo BCI mới nhất của chúng tôi cho thấy 61%
doanh nghiệp xem thủ tục hành chính và giấy tờ là thách thức lớn hàng đầu. Đối
với các tập đoàn đa quốc gia muốn mở rộng hoạt động trên 34 tỉnh, thành phố, điều
này tạo ra một thách thức, làm tiêu tốn nguồn lực quản lý và làm chậm quá trình
triển khai.</p>
<p class="text-justify">Thanh khoản cũng là một vấn đề cấp bách trong bối cảnh
thương mại toàn cầu nhiều biến động, hiệu quả sử dụng vốn mang ý nghĩa sống
còn. Tại Việt Nam, dù đã có các quy định mới, quá trình hoàn thuế vẫn chậm, phức
tạp và thiếu nhất quán giữa các địa phương. </p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, chúng tôi cũng ghi nhận sự thay đổi trên thị
trường lao động. Mối lo về thiếu hụt nhân lực đã tăng từ 23% lên 33%. Khi Việt
Nam bước vào các lĩnh vực sản xuất công nghệ cao và bán dẫn, áp lực về nguồn
nhân lực chất lượng cao đang trở thành điểm nghẽn mới. </p>
<p class="text-justify">Các doanh nghiệp châu Âu luôn đầu tư với tầm nhìn dài hạn.
Chúng tôi hướng đến các chuỗi giá trị tích hợp, chứ không chỉ là hoạt động lắp
ráp chi phí thấp; để duy trì điều đó có ba ưu tiên chiến lược.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> tính nhất
quán trong thực thi chính sách. Việt Nam cần tháo gỡ các quy định chồng chéo và
trao thêm quyền cho địa phương để đưa ra quyết định nhanh chóng, đúng chuyên
môn. Yếu tố mang tính quyết định cho năm 2026 sẽ là tốc độ và phân quyền. </p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> đồng bộ hạ
tầng. Việt Nam đang phát triển với tốc độ rất ấn tượng, nhưng cảng biển, giao
thông và lưới điện cần được phát triển đồng bộ. Không thể có các nhà máy đẳng cấp
thế giới nhưng lại phụ thuộc vào nguồn điện thiếu ổn định. Nếu muốn đạt mục
tiêu tăng trưởng 10%, đảm bảo an ninh năng lượng là điều không thể thỏa hiệp.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> hài hòa
hóa quy định. Với khuôn khổ Đối tác Chiến lược toàn diện, Việt Nam đang có cơ hội
lớn để đồng bộ các tiêu chuẩn với chuẩn mực quốc tế. </p>
<p class="text-justify">Chúng tôi đặc biệt tin tưởng vào 5 ưu tiên chiến lược do Thủ
tướng Lê Minh Hưng xác định cho nhiệm kỳ 2026-2031, nhất là định hướng xây dựng
“Chính phủ phục vụ người dân” và thúc đẩy “hiệu quả tổ chức bộ máy”. Đây cũng
chính là những mục tiêu mà cộng đồng doanh nghiệp châu Âu hướng tới.</p>
<p class="text-justify">EuroCham mong muốn trở thành một đối tác mang tính xây dựng
và thẳng thắn với Chính phủ Việt Nam. Thông điệp của chúng tôi rất rõ ràng: “kỷ
nguyên vươn mình” của Việt Nam thực sự đã bắt đầu. Chúng tôi sẵn sàng đồng hành
để đóng góp chuyên môn, giúp quá trình vươn lên này trở nên bền vững, bao trùm
và không thể đảo ngược”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88925">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/565b4d0b77314b7e977a468198a8297f-88925.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88926" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/7480f195768844a9976e8b7d77982a68-88926.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Môi trường đầu tư và kinh doanh của Việt Nam tiếp tục được
cải thiện theo chiều hướng tích cực. Tăng trưởng kinh tế ổn định, chính sách đầu
tư mở và những nỗ lực không ngừng của Chính phủ Việt Nam trong việc tăng cường
đối thoại với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là những tín hiệu đáng
mừng cho các doanh nghiệp Hàn Quốc.</p>
<p class="text-justify">Đối với các doanh nghiệp Hàn Quốc, Việt Nam là một đối tác đầu
tư rất quan trọng. Đặc biệt, Việt Nam đang vượt ra khỏi vai trò là một cơ sở sản
xuất và hiện đang theo đuổi nâng cấp công nghiệp, chuyển đổi số và phát triển
các ngành công nghiệp tiên tiến. Sự thay đổi này rất quan trọng bởi các doanh
nghiệp Hàn Quốc hiện nay không chỉ coi Việt Nam là một cơ sở sản xuất mà còn là
một đối tác công nghiệp chiến lược, cùng nhau phát triển trong chuỗi cung ứng
toàn cầu.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi cũng đánh giá tích cực những nỗ lực của Việt Nam
trong việc cải thiện thủ tục hành chính, cải cách các quy định liên quan đến đầu
tư, mở rộng cơ sở hạ tầng và nâng cao môi trường kinh doanh nói chung. </p>
<p class="text-justify">Nếu những cải thiện này tiếp tục được duy trì không chỉ ở cấp
Chính phủ mà còn ở cấp địa phương, niềm tin của các công ty Hàn Quốc vào Việt
Nam sẽ càng được củng cố. Khi Việt Nam tiếp tục tăng cường cả sự ổn định thể chế
và năng lực cạnh tranh công nghiệp, Việt Nam sẽ vẫn là một trong những đối tác
hợp tác đầu tư quan trọng nhất đối với các doanh nghiệp Hàn Quốc.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, các doanh nghiệp Hàn Quốc vẫn phải đối mặt với một
số thách thức thực tiễn. </p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> tính nhất
quán của các chính sách và quy định, cũng như tính dự đoán được của việc thực
thi hành chính. Các quyết định đầu tư được đưa ra từ góc nhìn dài hạn từ xây dựng
nhà máy, nhập khẩu thiết bị, tuyển dụng công nhân đến thiết lập chuỗi cung ứng.
Do đó, các công ty rất chú trọng đến cách thức luật và quy định được giải thích
và áp dụng trong thực tế, và cơ quan nào sẽ chịu trách nhiệm khi vấn đề phát
sinh.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> cơ sở hạ
tầng và nguồn nhân lực. Khi đầu tư của Hàn Quốc mở rộng sang các lĩnh vực có
giá trị gia tăng cao hơn như chất bán dẫn, điện tử, pin, logistics, năng lượng
và sản xuất thông minh, nguồn cung cấp điện ổn định, cơ sở hạ tầng logistics hiệu
quả, các khu công nghiệp cạnh tranh và lực lượng lao động kỹ thuật lành nghề
ngày càng trở nên quan trọng.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> những thay
đổi toàn cầu gần đây, bao gồm tái cấu trúc chuỗi cung ứng, thuế suất tối thiểu
toàn cầu và các yêu cầu ESG (môi trường, xã hội và quản trị) chặt chẽ hơn, cũng
đang tạo ra những thách thức mới cho các công ty. Do đó, việc thu hút đầu tư chất
lượng cao chỉ bằng các ưu đãi thuế là rất khó khăn. Điều các công ty cần là sự
tin tưởng lớn hơn từ các tổ chức, quy trình hành chính nhanh hơn và các hệ thống
hỗ trợ thiết thực cho phép họ đầu tư một cách tự tin trong dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Trong thời gian tới, Việt Nam đã xác định cải cách thể chế,
phát triển cơ sở hạ tầng và phát triển nguồn nhân lực là những ưu tiên. Hướng
đi này phù hợp với thế mạnh của các công ty Hàn Quốc. Đặc biệt, có nhiều cơ hội
để hai nước hợp tác trong các lĩnh vực bán dẫn, điện tử tiên tiến, chuyển đổi số,
năng lượng, sản xuất thông minh và cơ sở hạ tầng.</p>
<p class="text-justify">Tăng cường niềm tin vào các thể chế cũng cần được ưu tiên.
Các công ty không chỉ đưa ra quyết định đầu tư dựa trên các ưu đãi. Họ xem xét
kỹ lưỡng luật pháp và quy định có được vận hành ổn định hay không, thủ tục hành
chính có nhanh chóng và rõ ràng hay không và các chính sách của Chính phủ trung
ương có được thực hiện nhất quán ở cấp địa phương hay không. Cải thiện những
lĩnh vực này sẽ khuyến khích cả đầu tư mới và tái đầu tư của các công ty Hàn Quốc.</p>
<p class="text-justify">Việc tăng cường liên kết giữa các doanh nghiệp Việt Nam và
Hàn Quốc trong chuỗi cung ứng cũng rất quan trọng. Để nhiều doanh nghiệp Việt
Nam tham gia vào chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp Hàn Quốc, cần cùng nhau
nâng cao quản lý chất lượng, quản lý sản xuất, tiêu chuẩn kỹ thuật và đào tạo
nguồn nhân lực. Chuyển giao công nghệ cũng cần vượt ra ngoài việc chỉ đơn thuần
nhập khẩu thiết bị. Cần phát triển thành một quá trình mà các doanh nghiệp cùng
nhau hợp tác thực địa, tiến hành nghiên cứu chung và bồi dưỡng nhân tài có kỹ
năng.</p>
<p class="text-justify">Sau khi áp dụng thuế suất tối thiểu toàn cầu, các biện pháp
hỗ trợ đầu tư cũng cần trở nên thiết thực hơn. Các ưu đãi thuế truyền thống có
thể có những hạn chế, vì vậy việc hỗ trợ nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn
nhân lực, cơ sở hạ tầng, thủ tục hành chính nhanh hơn và các hoạt động đổi mới
sáng tạo sẽ ngày càng trở nên quan trọng.</p>
<p class="text-justify">Chìa khóa không chỉ đơn giản là tăng quy mô đầu tư, mà là
xây dựng một cấu trúc trong đó cả hai nước có thể cùng nhau tạo ra giá trị cao
hơn. Nếu Việt Nam tiếp tục tăng cường niềm tin thể chế, cơ sở hạ tầng, nguồn
nhân lực và liên kết chuỗi cung ứng, đầu tư chất lượng cao từ Hàn Quốc sẽ tiếp
tục mở rộng, Việt Nam sẽ có thể củng cố hơn nữa vị thế của mình như một trung
tâm chiến lược trong chuỗi cung ứng toàn cầu”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88928">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/57d0872a673b43e9a2ba0b77fd0f8e9e-88928.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 10">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88929" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/c36c403dc4f44d19b288214c6f434bed-88929.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 11">
</figure>
<p class="text-justify">“Theo đánh giá của cộng đồng doanh nghiệp Hoa Kỳ, Việt Nam
đang phát đi thông điệp rõ ràng về việc đưa tăng trưởng trở lại vị trí ưu tiên,
đồng thời thể hiện quyết tâm tăng tốc cải cách và nâng cao hiệu quả thực thi
chính sách.</p>
<p class="text-justify">Điểm đáng chú ý hiện nay không chỉ nằm ở định hướng chính
sách, mà còn ở sự thay đổi trong tư duy điều hành. Chính phủ đang tập trung nhiều
hơn vào khâu thực thi, cắt giảm thủ tục, đẩy nhanh tiến độ xử lý công việc và
tháo gỡ các điểm nghẽn tồn tại trong thời gian dài. Đối với cộng đồng doanh
nghiệp Hoa Kỳ, đây là yếu tố đặc biệt quan trọng. Trong bối cảnh cạnh tranh
toàn cầu hiện nay, các quốc gia không chỉ cạnh tranh về chi phí hay vị trí địa
lý, mà còn cạnh tranh về tốc độ vận hành và khả năng phản ứng chính sách.</p>
<p class="text-justify">Song song với đó, Việt Nam đang từng bước định vị lại mình
như một nền kinh tế dựa trên đổi mới sáng tạo. Việc ưu tiên chuyển đổi số, trí
tuệ nhân tạo và các ngành có giá trị gia tăng cao phù hợp với thế mạnh của các
doanh nghiệp Hoa Kỳ. Điều này mở ra cơ hội không chỉ về đầu tư vốn mà còn về hợp
tác sâu rộng hơn trong lĩnh vực công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực và phát triển
dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Các yếu tố nền tảng của Việt Nam vẫn được đánh giá tích cực,
bao gồm ổn định kinh tế vĩ mô, lực lượng lao động năng động và sự cởi mở ngày
càng lớn trong đối thoại công - tư. Những yếu tố này tiếp tục củng cố niềm tin
rằng Việt Nam đang bước vào một giai đoạn tăng trưởng mới với chất lượng cao
hơn.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, thách thức hiện nay nằm ở khâu thực thi, tính dự
báo của chính sách và đặc biệt là chi phí tuân thủ. Mặc dù chính sách ngày càng
tiến bộ, quá trình triển khai trên thực tế đôi khi vẫn chưa đồng đều. Doanh
nghiệp có thể gặp sự khác biệt trong cách hiểu và áp dụng quy định giữa các bộ,
ngành hoặc địa phương, dẫn đến chậm trễ và thiếu chắc chắn. Đối với nhà đầu tư,
điều khó khăn nhất không hẳn là rủi ro, mà là sự khó đoán.</p>
<p class="text-justify">Thủ tục hành chính vẫn là một điểm cần tiếp tục cải thiện.
Trong các lĩnh vực như năng lượng, y tế hay dịch vụ số, quy trình phê duyệt đôi
khi kéo dài và thiếu tính nhất quán. Khi Việt Nam đang dịch chuyển lên các phân
khúc giá trị cao hơn, năng lực ra quyết định nhanh và ổn định sẽ trở thành yếu
tố cạnh tranh then chốt.</p>
<p class="text-justify">Trong lĩnh vực thuế, doanh nghiệp phản ánh việc tiếp cận cơ
chế tránh đánh thuế hai lần vẫn còn nhiều vướng mắc, với yêu cầu hồ sơ phức tạp
và thời gian xử lý kéo dài. Trong lĩnh vực hải quan, việc điều chỉnh mã HS sau
kiểm tra, trong một số trường hợp áp dụng hồi tố, có thể phát sinh nghĩa vụ tài
chính ngoài dự kiến. Những yếu tố này không chỉ làm gia tăng chi phí mà còn ảnh
hưởng trực tiếp tới kế hoạch kinh doanh của doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Trong lĩnh vực kinh tế số, các quy định liên quan đến lưu trữ
dữ liệu và dòng chảy dữ liệu xuyên biên giới cũng đang làm tăng chi phí vận
hành. Doanh nghiệp có thể phải đầu tư thêm hạ tầng nội địa hoặc điều chỉnh hệ
thống toàn cầu, trong khi hiệu quả mang lại chưa thực sự rõ ràng.</p>
<p class="text-justify">Năng lượng cũng là một điểm nghẽn đáng chú ý. Các dự án, đặc
biệt trong lĩnh vực năng lượng tái tạo, vẫn có thể gặp chậm trễ trong quá trình
cấp phép hoặc đàm phán hợp đồng, ảnh hưởng đến tiến độ đầu tư và kế hoạch mở rộng
sản xuất.</p>
<p class="text-justify">Những chi phí tuân thủ này thường không dễ nhận thấy ngay lập
tức, nhưng sẽ tích lũy theo thời gian và làm suy giảm đáng kể sức hấp dẫn của
môi trường đầu tư.</p>
<p class="text-justify">Cơ hội của Việt Nam hiện nay là chuyển từ định hướng chính sách
đúng sang kết quả thực thi cụ thể, nhất quán và nhanh chóng.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> cần tập
trung mạnh hơn vào tính nhất quán trong thực thi chính sách. Điều này đòi hỏi
tăng cường phối hợp giữa các bộ, ngành và bảo đảm các quy định được áp dụng rõ
ràng, thống nhất ở mọi cấp.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> cải cách
thủ tục hành chính cần đi vào chiều sâu hơn, với mục tiêu giảm thực chất chi
phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Việc đơn giản hóa quy trình, loại bỏ các yêu cầu
trùng lặp và chuyển sang mô hình quản lý dựa trên rủi ro sẽ giúp doanh nghiệp
giảm đáng kể nguồn lực dành cho các hoạt động không tạo ra giá trị gia tăng.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> Việt Nam cần
xây dựng một khung pháp lý thuận lợi hơn cho nền kinh tế số. Một cách tiếp cận
cân bằng trong quản trị dữ liệu, vừa bảo đảm an ninh vừa cho phép dòng chảy dữ
liệu hiệu quả, sẽ là yếu tố quan trọng để thu hút đầu tư công nghệ cao.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ tư,</i> cần ưu
tiên tháo gỡ các điểm nghẽn về năng lượng thông qua cải thiện quy trình cấp
phép, nâng cao tính minh bạch và tính khả thi của các dự án, đồng thời tạo điều
kiện để khu vực tư nhân tham gia sâu hơn.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ năm,</i> tiếp tục
đầu tư cho đổi mới sáng tạo và phát triển nguồn nhân lực sẽ giúp Việt Nam nâng
cao vị thế trong chuỗi giá trị toàn cầu.</p>
<p class="text-justify"><i>Cuối cùng,</i> việc
duy trì và thúc đẩy đối thoại công - tư thực chất là rất quan trọng. Những kênh
trao đổi thẳng thắn, hiệu quả sẽ giúp chính sách không chỉ đúng hướng mà còn khả
thi trong triển khai thực tế.</p>
<p class="text-justify">Việt Nam hiện đã sở hữu nhiều lợi thế rõ ràng. Giai đoạn tiếp
theo sẽ phụ thuộc vào việc những lợi thế đó có được chuyển hóa thành kết quả cụ
thể trên thực tế hay không - một cách nhanh chóng, nhất quán và với chi phí
tuân thủ hợp lý”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88930">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/cf3c4c126e0c402a802bcecfca15a60f-88930.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 12">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88931" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/8c9a9f033732494785c97d7affd1691a-88931.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 13">
</figure>
<p class="text-justify">“Từ góc nhìn của một Hiệp hội đại diện cho hơn 250 doanh
nghiệp thành viên, chúng tôi nhận thấy sự gia tăng đáng kể về niềm tin của các
nhà đầu tư Anh, đặc biệt là sau khi mối quan hệ song phương được nâng lên cấp độ
Đối tác Chiến lược toàn diện (CSP) vào năm 2025, được thể hiện rõ ràng qua ba
trụ cột chính.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> khung
pháp lý và kết nối thương mại. Việt Nam là một trong số ít quốc gia trong khu vực
sở hữu lợi thế kép từ các hiệp định thương mại quy mô lớn với Vương quốc Anh,
bao gồm Hiệp định Thương mại tự do song phương Anh - Việt Nam (UKVFTA) và Hiệp
định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP). Sự kết hợp này
tạo ra một hành lang thuế quan ưu việt và các tiêu chuẩn bảo hộ đầu tư minh bạch
cho các doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> phát triển
các trung tâm tài chính và hệ thống pháp luật. Chúng tôi đánh giá cao nỗ lực của
Chính phủ Việt Nam trong việc thành lập các Trung tâm Tài chính quốc tế (IFC) tại
Thành phố Hồ Chí Minh và Đà Nẵng. Sự hỗ trợ tích cực của Vương quốc Anh trong
việc giúp Việt Nam xây dựng khung pháp lý dựa trên các nguyên tắc Luật Chung là
một yếu tố then chốt. Sự thống nhất các nguyên tắc pháp lý này không chỉ tạo ra
cảm giác quen thuộc mà còn xây dựng nền tảng vững chắc về lòng tin cho các tổ
chức tài chính và doanh nghiệp Anh khi đầu tư vốn vào Việt Nam.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> các cơ chế
đối thoại mang tính xây dựng. Cách tiếp cận cởi mở của Chính phủ được thể hiện
rõ ràng thông qua Diễn đàn Doanh nghiệp Việt Nam (VBF) và các cuộc đối thoại trực
tiếp giữa Thủ tướng và cộng đồng doanh nghiệp nước ngoài. Nhiều khuyến nghị của
BritCham về thuế và các rào cản kỹ thuật đã được ghi nhận và giải quyết, thể hiện
cam kết thực chất về hợp tác từ các cơ quan quản lý.</p>
<p class="text-justify">Mặc dù có những chuyển biến tích cực, cộng đồng doanh nghiệp
Anh vẫn kỳ vọng những cải cách thiết thực và đồng bộ hơn nữa trong một số lĩnh
vực.</p>
<p class="text-justify">Về thủ tục hành chính, quy trình xác thực và hợp pháp hóa
tài liệu từ Vương quốc Anh từ trước đến nay luôn là một trở ngại lớn, gây ra
chi phí đáng kể về thời gian và cơ hội cho các nhà đầu tư. Việc đơn giản hóa
các thủ tục này là ưu tiên hàng đầu để đảm bảo dòng vốn quốc tế chảy hiệu quả
hơn.</p>
<p class="text-justify">Trong các quy trình phê duyệt dự án trọng điểm, thuộc các
lĩnh vực ưu tiên như năng lượng tái tạo và dược phẩm, tốc độ cấp phép không phải
lúc nào cũng đáp ứng được kỳ vọng. Sự chồng chéo trong các quy định giữa các bộ
vẫn là yếu tố khiến các tập đoàn lớn thận trọng trong việc đẩy nhanh quá trình
thẩm định và giải ngân vốn.</p>
<p class="text-justify">Về yêu cầu đối với cơ sở hạ tầng bền vững, các doanh nghiệp
Anh hiện nay tuân thủ các tiêu chuẩn ESG nghiêm ngặt. Do đó, sự sẵn có của cơ sở
hạ tầng năng lượng xanh và mạng lưới logistics hiện đại là điều kiện tiên quyết
để chúng ta mở rộng quy mô sản xuất tại Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Để nâng cao khả năng cạnh tranh và thu hút vốn chất lượng
cao từ Anh, Việt Nam nên ưu tiên các cải cách nhằm củng cố hệ sinh thái tài
chính đồng thời đầu tư vào nguồn nhân lực dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Sự phát triển của IFC nên là trụ cột chính. Cộng đồng doanh
nghiệp Anh hoan nghênh tham vọng của Việt Nam trong việc thúc đẩy tài chính xanh,
công nghệ tài chính, thị trường vốn và thương mại toàn cầu trong khuôn khổ quản
lý rủi ro mạnh mẽ. Để thành công, Trung tâm Tài chính quốc tế phải được tích hợp
với nền kinh tế rộng lớn hơn, hỗ trợ xuất khẩu, chuyển đổi năng lượng và lương
hưu, đồng thời học hỏi kinh nghiệm của London.</p>
<p class="text-justify">Việt Nam nên thiết lập cầu nối pháp lý London-Việt Nam bằng
cách điều chỉnh các quy định của IFC phù hợp với các thông lệ quốc tế tốt nhất,
bao gồm các nguyên tắc luật chung, tiếng Anh là ngôn ngữ làm việc và các tiêu
chuẩn báo cáo tài chính và vốn quốc tế, được hỗ trợ bởi quản trị mạnh mẽ. Các
nhà hoạch định chính sách cũng nên tận dụng cả các thể chế trong nước và các tổ
chức tài chính lâu đời của Anh với chuyên môn đã được chứng minh.</p>
<p class="text-justify">Mô hình Trung tâm Tài chính quốc tế cần mang tính toàn diện,
mở rộng các ưu đãi cho toàn bộ hệ sinh thái, bao gồm các nhà môi giới, cố vấn,
kiểm toán viên và các tổ chức đào tạo, để tối đa hóa lợi ích quốc gia. Các cải
cách quan trọng như cải thiện giấy phép lao động và thuế thu nhập cá nhân cũng
cần được nhân rộng trên toàn nền kinh tế để tăng sức hấp dẫn đầu tư.</p>
<p class="text-justify">Ngoài tài chính, giáo dục và đào tạo cũng rất quan trọng.
Thúc đẩy tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, tăng cường đào tạo nghề và điều chỉnh
giáo dục đại học phù hợp với tiêu chuẩn toàn cầu sẽ giúp xây dựng lực lượng lao
động sẵn sàng cho tương lai, với tiềm năng hợp tác mạnh mẽ với Vương quốc Anh.</p>
<p class="text-justify">Với những cải cách đúng đắn, Việt Nam có thể nâng cao khả
năng cạnh tranh và định vị mình là điểm đến hàng đầu cho đầu tư chất lượng cao
từ Vương quốc Anh. BritCham Việt Nam cam kết đóng vai trò là cầu nối chiến lược,
hỗ trợ Chính phủ Việt Nam xây dựng môi trường kinh doanh minh bạch, hiện đại và
bền vững”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="88932">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/11/b55daa4ab4174cf2aae63bff3a311a17-88932.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 14">
</figure>
<p class="text-justify"><b>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 18</b>+<b>19 - 2026 phát hành ngày 09/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại <a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a></b><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-17-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><b><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">:</a> </b></p>
<p class="text-justify"><b><i></i></b><b>Link:<i> <a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-1819-2026.html</a></i></b></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="88544">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/09/f18e667d54914e24aa77c4e18a108cd1-88544.png" alt="Cải cách mạnh hơn để biến cơ hội FDI thành tăng trưởng bền vững - Ảnh 15">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Ngành xi măng trước sức ép hạn ngạch carbon</title><description>Việt Nam hiện l#224; quốc gia sản xuất xi măng lớn thứ ba thế giới. Tuy nhi#234;n, đ#226;y cũng l#224; một trong những ng#224;nh chịu #225;p lực giảm ph#225;t thải lớn nhất, trong bối cảnh hiện thực h#243;a cam kết ph#225;t thải r#242;ng bằng “0” (Net Zero). Ph#243;ng vi#234;n Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đ#227; c#243; cuộc trao đổi với PGS.TS Lương Đức Long, Ph#243; Chủ tịch ki#234;m Tổng Thư k#253; Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) để l#224;m r#245; lộ tr#236;nh v#224; c#225;c đ#242;n bẩy chiến lược gi#250;p ng#224;nh xi măng giải b#224;i to#225;n carbon.</description><pubDate>Tue, 05 May 2026 09:55:29 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/nganh-xi-mang-truoc-suc-ep-han-ngach-carbon.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/nganh-xi-mang-truoc-suc-ep-han-ngach-carbon.htm</guid><atom:link href="/nganh-xi-mang-truoc-suc-ep-han-ngach-carbon.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/05/02/027742b2e0ca44818d09eed5861860aa-86875.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Việt Nam hiện là quốc gia sản xuất xi măng lớn thứ ba thế giới. Tuy nhiên, đây cũng là một trong những ngành chịu áp lực giảm phát thải lớn nhất, trong bối cảnh hiện thực hóa cam kết phát thải ròng bằng “0” (Net Zero). Phóng viên Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy đã có cuộc trao đổi với PGS.TS Lương Đức Long, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Xi măng Việt Nam (VNCA) để làm rõ lộ trình và các đòn bẩy chiến lược giúp ngành xi măng giải bài toán carbon.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="86869">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/02/fe97d4149ccb47e98968bdc5d3077bd1-86869.png" alt="Ngành xi măng trước sức ép hạn ngạch carbon - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86870" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/02/737d1b73c3364cc58270f7d2ef43863c-86870.png" alt="Ngành xi măng trước sức ép hạn ngạch carbon - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Thưa ông, trong số các cơ sở được thí điểm phân bổ hạn ngạch phát thải
khí nhà kính giai đoạn 2025-2026 có tới 51/61 cơ sở sản xuất xi măng. Ông nhìn
nhận như thế nào về con số này?</i></b></p>
<p class="text-justify">Xi măng là một trong ba ngành được lựa chọn thí điểm phân bổ
hạn ngạch phát thải khí nhà kính. Cụ thể, có tới 51/61 doanh nghiệp xi măng
trong nước thuộc phạm vi áp dụng trong giai đoạn 2025-2026. Đáng chú ý, hạn ngạch
của ngành chiếm tỷ trọng lớn, khoảng 28,8% tổng hạn ngạch quốc gia năm 2025 và
28,1% năm 2026.</p>
<p class="text-justify">Năm 2025, sản lượng xi măng ước đạt khoảng 96,36 triệu tấn.
Trong khi đó, hạn ngạch phát thải được giao là 69,94 triệu tấn CO<sub>2</sub>
tương đương, nhưng phát thải thực tế ước lên tới khoảng 84 triệu tấn CO<sub>2</sub>.
Điều này cho thấy khoảng cách đáng kể giữa hạn ngạch thí điểm và mức phát thải
thực tế của toàn ngành.</p>
<p class="text-justify"><b><i>Với một lộ trình khá gắt gao như vậy, vì sao ông cho rằng nhiều doanh
nghiệp hiện vẫn chưa thực sự sẵn sàng?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đây là một thực tế đáng quan ngại. Dù câu chuyện giảm phát
thải đã được đặt ra hơn 20 năm qua, nhiều doanh nghiệp chỉ mới bắt đầu tiếp cận
trong thời gian gần đây. Thậm chí, không ít đơn vị chưa chủ động xây dựng năng
lực nội tại, vẫn phải thuê tư vấn bên ngoài để thực hiện kiểm kê khí nhà kính.</p>
<p class="text-justify">Nguyên nhân chủ yếu đến từ thách thức về chi phí đầu tư công
nghệ. Hiện hơn 80% sản lượng xi măng đến từ các nhà máy quy mô lớn, với mức đầu
tư từ hàng trăm triệu đến hàng tỷ USD. Việc cải tạo dây chuyền hoặc thay thế
các thiết bị chính trong hệ thống đang vận hành ổn định theo hướng giảm phát thải
đòi hỏi nguồn lực tài chính rất lớn.</p>
<p class="text-justify">Trong bối cảnh chưa xuất hiện áp lực kinh tế đủ mạnh - như hạn
ngạch phát thải gắn với chi phí tuân thủ hay chế tài xử phạt - nhiều doanh nghiệp
vẫn chưa thực sự chủ động chuyển đổi.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86871" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/02/f2d1b6999e60413ab1b0c267d26b2b25-86871.png" alt="Ngành xi măng trước sức ép hạn ngạch carbon - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Ông từng đề cập đến khái niệm “phát thải khó tránh” trong sản xuất xi
măng. Phải chăng, ngay cả khi nỗ lực tối đa, ngành này vẫn tồn tại một “giới hạn
phát thải” nếu tiếp tục duy trì phương thức sản xuất truyền thống?</i></b></p>
<p class="text-justify">Điều này là hoàn toàn chính xác. Để thấy rõ giới hạn của dư
địa giảm phát thải, cần nhìn vào ba nguồn phát thải chính trong sản xuất xi
măng.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> phản ứng
hóa học (calcination) - quá trình phân hủy đá vôi để tạo clinker. Theo IPCC,
riêng công đoạn này phát sinh khoảng 525 kg CO<sub>2</sub> trên mỗi tấn
clinker, chiếm tới 55% tổng lượng phát thải. Đây chính là phần “phát thải khó
tránh”.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> phát thải
từ nhiên liệu nung clinker, chiếm khoảng 38%. Đây là khu vực có thể cải thiện
trong ngắn hạn thông qua nâng cao hiệu suất nhiệt và sử dụng nhiên liệu thay thế.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> điện năng,
chỉ chiếm khoảng 7%. Việc tiết kiệm điện là cần thiết, nhưng không phải là yếu
tố quyết định để giảm sâu phát thải của toàn ngành.</p>
<p class="text-justify">Vì vậy, ngay cả khi tối ưu vận hành ở mức cao nhất, “sàn
phát thải” khoảng 525 kg CO<sub>2</sub>/tấn clinker vẫn tồn tại. Để giảm sâu
hơn, ngành buộc phải dựa vào hai đòn bẩy chính: giảm tỷ lệ clinker (clinker
factor) và từng bước triển khai các công nghệ thu giữ carbon như CCS/CCU.</p>
<p class="text-justify"><b><i>Vậy, giải pháp giảm tỷ lệ clinker (clinker factor) có khả thi đối với
các công trình đòi hỏi tiêu chuẩn kỹ thuật cao hiện nay không, thưa ông?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đây là đòn bẩy hiệu quả nhất trong ngắn và trung hạn. Việc
giảm tỷ lệ clinker trong xi măng hỗn hợp giúp cắt giảm trực tiếp phát thải từ
quá trình sản xuất - chiếm tỷ trọng lớn nhất trong toàn chuỗi.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, để triển khai hiệu quả, cần hội tụ một số điều kiện
nền tảng: nguồn cung phụ gia khoáng (như xỉ lò cao, tro bay, pozzolan hoặc đất
sét nung LC3) phải ổn định; hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật cần được
hoàn thiện; đặc biệt, sản phẩm phải được thị trường chấp nhận.</p>
<p class="text-justify">Quan trọng hơn, cần đảm bảo sự cân bằng giữa mục tiêu giảm
phát thải theo các cam kết quốc tế với yêu cầu phát triển kinh tế và duy trì
năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86872" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/02/378c4b71845048449efadccc985e8b3a-86872.png" alt="Ngành xi măng trước sức ép hạn ngạch carbon - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Từ kinh nghiệm giảm phát thải của các quốc gia đi trước như Thái Lan,
ông có đề xuất lộ trình cụ thể nào cho ngành xi măng Việt Nam?</i></b></p>
<p class="text-justify">Tôi cho rằng cần phân kỳ lộ trình theo mức độ sẵn sàng của
công nghệ và chi phí tuân thủ, với ba giai đoạn chính.</p>
<p class="text-justify"><i>Giai đoạn đầu (đến năm
2030):</i> tập trung vào các giải pháp “không hối tiếc” (no-regret options),
như tối ưu hóa sử dụng nhiệt và điện, tận dụng nhiệt thải để phát điện (WHR), số
hóa vận hành và gia tăng tỷ lệ nhiên liệu thay thế. Đây là những giải pháp có
thể triển khai ngay, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế thông qua giảm chi phí
năng lượng.</p>
<p class="text-justify"><i>Giai đoạn giữa
(2030-2040):</i> mở rộng phát triển vật liệu xi măng carbon thấp, thúc đẩy sử dụng
các chất kết dính mới như geopolymer hoặc belite clinker ở các phân khúc phù hợp.
Song song, hạ tầng đo đạc - báo cáo - thẩm định (MRV) và cơ chế định giá carbon
cần được hoàn thiện và vận hành hiệu quả.</p>
<p class="text-justify"><i>Giai đoạn sau (sau năm
2040):</i> khi công nghệ thu giữ carbon như CCS/CCU và hạ tầng tài chính đã
chín muồi, có thể triển khai ở quy mô lớn nhằm xử lý phần phát thải khó tránh
còn lại. Tuy nhiên, quá trình nghiên cứu và chuẩn bị cần được tiến hành ngay từ
bây giờ, trong khi việc đầu tư cần có lộ trình phù hợp để đảm bảo khả năng chịu
đựng của doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify"><b><i>Ông có đề cập đến việc sử dụng rác thải làm nhiên liệu thay thế. Đây có
phải là một “điểm sáng” trong nỗ lực giảm phát thải của các doanh nghiệp xi
măng Việt Nam thời gian gần đây?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đúng vậy. Nếu cách đây khoảng 18 năm chỉ có Holcim (nay là
INSEE) triển khai, thì trong 4-5 năm trở lại đây, đã có khoảng 15-16 nhà máy đẩy
nhanh ứng dụng giải pháp này. Việc sử dụng rác thải làm nhiên liệu thay thế
không chỉ giúp giảm phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch mà còn góp phần xử lý vấn
đề môi trường.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, hiện vẫn thiếu một “thước đo” công bằng về mặt
chính sách. Trên thế giới, việc sử dụng rác thải giúp giảm phát thải khí
methane từ bãi chôn lấp và được tính toán, khấu trừ cụ thể vào hạn ngạch phát
thải. Trong khi đó, tại Việt Nam, các hướng dẫn liên quan vẫn chưa rõ ràng, khiến
doanh nghiệp còn dè dặt trong việc đầu tư quy mô lớn.</p>
<p class="text-justify">Vì vậy, chúng tôi kiến nghị Chính phủ sớm ban hành hướng dẫn
chi tiết, tạo cơ sở để doanh nghiệp yên tâm mở rộng đầu tư và khai thác hiệu quả
giải pháp này.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86873" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/02/b920aa3fcfa14f55acdd34c704142ad4-86873.png" alt="Ngành xi măng trước sức ép hạn ngạch carbon - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Để thúc đẩy chuyển đổi xanh, không chỉ cần nỗ lực từ phía sản xuất mà
còn đòi hỏi sự chấp nhận từ thị trường. Theo ông, làm thế nào để người dùng và
nhà thầu ưu tiên sử dụng xi măng có tỷ lệ clinker thấp?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đây là vấn đề cốt lõi. Mọi lộ trình chuyển đổi đều phải gắn
với thị trường. Do đó, cần đẩy mạnh truyền thông để từng bước hình thành thói
quen sử dụng xi măng “xanh”, có tỷ lệ clinker thấp.</p>
<p class="text-justify">Một tín hiệu tích cực là sự chuyển dịch từ ngành bê tông.
Nhiều doanh nghiệp bê tông chuyên nghiệp đã nhận ra lợi ích kinh tế khi sử dụng
xi măng có hàm lượng clinker thấp để phối trộn với phụ gia, qua đó vừa giảm chi
phí vừa cải thiện biên lợi nhuận.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, áp lực từ các thị trường xuất khẩu như Úc và
châu Âu, đặc biệt với cơ chế CBAM (Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon), đang buộc
doanh nghiệp phải thay đổi nếu muốn duy trì năng lực cạnh tranh. Ngược lại, nếu
sản xuất được xi măng phát thải thấp, đây sẽ là “tấm vé” để tiếp cận những thị
trường có yêu cầu cao nhất.</p>
<p class="text-justify"><b><i>Từ góc độ Hiệp hội và cơ quan quản lý, cần có những giải pháp gì để “tiếp
sức” cho doanh nghiệp chuyển đổi xanh hiệu quả, thưa ông?</i></b></p>
<p class="text-justify">Về phía Hiệp hội, chúng tôi đang trực tiếp làm việc với từng
doanh nghiệp để hướng dẫn phương pháp tính toán phát thải, đồng thời giải
thích, phổ biến các quy định tại thông tư, nghị định liên quan. Bên cạnh đó, Hiệp
hội cũng sẵn sàng tổ chức các nghiên cứu chuyên sâu, làm cơ sở kiến nghị chính
sách với cơ quan quản lý.</p>
<p class="text-justify">Đối với Chính phủ, chúng tôi kiến nghị sớm ban hành hướng dẫn
cụ thể về cơ chế tính toán và khấu trừ phát thải đối với nhiên liệu thay thế; đồng
thời, hỗ trợ nâng cao nhận thức và năng lực kỹ thuật để doanh nghiệp chủ động
thực hiện kiểm kê và quản lý phát thải. Cùng với đó, cơ chế phân bổ hạn ngạch cần
có tính linh hoạt, phù hợp với thực tiễn sản xuất.</p>
<p class="text-justify">Ngoài ra, cần phát triển các gói tài chính xanh thực chất,
như tín dụng ưu đãi, hỗ trợ lãi suất hoặc ưu đãi thuế cho các dự án đầu tư giảm
phát thải (như phát điện từ nhiệt dư, xử lý rác thải). Quan trọng hơn, giảm
phát thải phải đi đôi với duy trì năng lực cạnh tranh và hiệu quả kinh tế của
doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Nếu được triển khai hiệu quả, đây không chỉ là áp lực tuân
thủ, mà còn là cơ hội để tái cấu trúc ngành xi măng theo hướng hiện đại, bền vững
hơn, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận các thị trường xuất khẩu có yêu cầu cao
như Úc và châu Âu - nơi đang áp dụng các cơ chế điều chỉnh carbon như CBAM.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86874" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/05/02/ca076bbe138b45d7ab472527c6ce9d6b-86874.png" alt="Ngành xi măng trước sức ép hạn ngạch carbon - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 17-2026 phát hành ngày 04/05/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại <a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-17-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a>: </i></b></p>
<p class="text-justify"><b><i></i></b><b>Link:</b> <b><i><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-17-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-17-2026.html</a></i></b></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="85872">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/25/3272622945464149aac4b457f7d31555-85872.png" alt="Ngành xi măng trước sức ép hạn ngạch carbon - Ảnh 7">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Kỳ vọng về Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Chí Minh</title><description>Từ g#243;c nh#236;n doanh nghiệp v#224; nh#224; đầu tư, Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Ch#237; Minh kh#244;ng chỉ giải b#224;i to#225;n vốn m#224; c#242;n được kỳ vọng g#243;p phần th#225;o gỡ c#225;c “điểm nghẽn” của startup, từ tiếp cận hạ tầng, thị trường đến n#226;ng cao năng lực vận h#224;nh th#244;ng qua hệ sinh th#225;i khởi nghiệp v#224; đổi mới s#225;ng tạo.</description><pubDate>Sun, 03 May 2026 00:00:00 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/ky-vong-ve-quy-dau-tu-mao-hiem-tpho-chi-minh.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/ky-vong-ve-quy-dau-tu-mao-hiem-tpho-chi-minh.htm</guid><atom:link href="/ky-vong-ve-quy-dau-tu-mao-hiem-tpho-chi-minh.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/d7ccfec0191445069975dd5b7cad22f8-86121.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Từ góc nhìn doanh nghiệp và nhà đầu tư, Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Chí Minh không chỉ giải bài toán vốn mà còn được kỳ vọng góp phần tháo gỡ các “điểm nghẽn” của startup, từ tiếp cận hạ tầng, thị trường đến nâng cao năng lực vận hành thông qua hệ sinh thái khởi nghiệp và đổi mới sáng tạo.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="86113">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/0d318789b2404c8ca3fc5f3d23406a3a-86113.png" alt="Kỳ vọng về Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Chí Minh - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86114">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/4fcd7de5535a4759b57a644b1ab23cf8-86114.png" alt="Kỳ vọng về Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Chí Minh - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86115" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/7041e83cee1045c8bb1689c97895ea75-86115.png" alt="Kỳ vọng về Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Chí Minh - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Mô hình hợp tác công – tư của Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ
Chí Minh đặc biệt ý nghĩa khi kết hợp định hướng chiến lược từ khu vực công với
tính linh hoạt và kỷ luật thị trường của khu vực tư nhân. Đồng thời, tỷ trọng
60% vốn tư nhân là tín hiệu mạnh mẽ về niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, đồng
thời tạo nền tảng đầu tư bền vững hơn.</p>
<p class="text-justify">Đặc biệt, cơ chế “chấp nhận rủi ro có kiểm soát” với ngưỡng
lên tới 50% phần vốn nhà nước – tương đương khoảng 100 tỷ đồng – là một bước tiến
mang tính đột phá. Điều này cho thấy sự chuyển dịch rõ rệt từ tư duy bảo toàn vốn
sang thúc đẩy đầu tư đổi mới sáng tạo - là yếu tố then chốt để hình thành hệ
sinh thái công nghệ năng động.</p>
<p class="text-justify">Tôi cho rằng việc khu vực công (chiếm 40%) sẵn sàng chia sẻ
một phần rủi ro không chỉ giúp giảm bớt rào cản tâm lý cho nhà đầu tư mà còn mở
ra cơ hội cho dòng vốn chảy vào các lĩnh vực có tiềm năng dài hạn nhưng rủi ro
cao như trí tuệ nhân tạo, bán dẫn, công nghệ sinh học hay năng lượng tái tạo.
Tuy nhiên, chia sẻ rủi ro không đồng nghĩa với nới lỏng kỷ luật đầu tư; ngược lại,
cần đi kèm với hệ thống quản trị minh bạch, quy trình và năng lực quản lý quỹ
chuyên nghiệp để bảo đảm rủi ro được kiểm soát và gắn với giá trị dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn ngày càng gay gắt
trong khu vực, tôi đánh giá TP. Hồ Chí Minh vẫn có nhiều lợi thế như quy mô thị
trường lớn, hệ thống đại học và nghiên cứu mạnh, cũng như cộng đồng startup
năng động. Để Quỹ thực sự phát huy vai trò “vốn mồi”, cần hội tụ được các yếu tố:
nguồn dự án chất lượng cao, cơ chế vận hành hiệu quả và sớm tạo ra các trường hợp
thành công để củng cố niềm tin thị trường.</p>
<p class="text-justify">Từ góc độ nhà đầu tư, tôi nhìn nhận các lĩnh vực công nghệ
sâu, dù đòi hỏi vốn lớn và thời gian hoàn vốn dài, vẫn sẽ đóng vai trò quyết định
đối với năng lực cạnh tranh dài hạn. Vì vậy, Quỹ không chỉ cung cấp vốn mà còn
cần đóng vai trò xúc tác, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua giai đoạn đầu và thu hút
thêm các nguồn lực đầu tư trong và ngoài nước.</p>
<p class="text-justify">Đối với Sunwah Group, việc tham gia Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.
Hồ Chí Minh thể hiện niềm tin dài hạn của chúng tôi vào triển vọng của Việt Nam
và định hướng trở thành trung tâm đổi mới sáng tạo và công nghệ hàng đầu của
TP. Hồ Chí Minh. Khoản đầu tư của chúng tôi không chỉ là quyết định tài chính
mà còn sự tiếp nối tự nhiên với các hoạt động của Sunwah Innovations - nền tảng
đổi mới sáng tạo của Tập đoàn nhằm hỗ trợ hệ sinh thái khởi nghiệp tại Việt Nam
và khu vực. Với mạng lưới tại Trung Quốc và Đông Nam Á, chúng tôi có thể tận dụng
để kết nối startup Việt Nam tiếp cận đối tác công nghệ, nhà đầu tư chiến lược
và thị trường quốc tế, qua đó góp phần đưa Quỹ trở thành nền tảng kết nối vốn,
công nghệ và đổi mới sáng tạo trong khu vực”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86116">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/818682c1b1c242cba0b56bbb7c467995-86116.png" alt="Kỳ vọng về Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Chí Minh - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86117" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/e88aa3a03d0e42339afc1f6a13dbab6e-86117.png" alt="Kỳ vọng về Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Chí Minh - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Tôi cho rằng Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ Chí Minh ra đời
đúng vào thời điểm hệ sinh thái startup công nghệ Việt Nam đang chuyển mình. Ý
tưởng và nhân lực chúng ta không thiếu, nhưng cơ chế tài chính và kết nối thị
trường vẫn là khoảng trống lớn. Vì vậy, kỳ vọng đặt ra không chỉ là hỗ trợ vốn
ban đầu, mà là kích hoạt toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của thành phố, từ
định hướng công nghệ, kết nối thị trường cho đến chuẩn hóa phương thức quản trị.</p>
<p class="text-justify">Cụ thể hơn, Quỹ cần tập trung nguồn lực vào những lĩnh vực
mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh trong khu vực, đồng thời đóng vai trò cầu nối
thực chất giữa nhà trường, doanh nghiệp lớn và startup. Việc kết nối này không
nên dừng ở các biên bản ghi nhớ (MoU) mà cần đi vào chiều sâu, thông qua chia sẻ
hạ tầng, mở cửa thị trường và chuyển giao kinh nghiệm vận hành.</p>
<p class="text-justify">Một kỳ vọng quan trọng khác là Quỹ sẽ giúp các startup xây dựng
nền tảng quản trị minh bạch ngay từ sớm. Đây là điều kiện cần để hệ sinh thái
khởi nghiệp trong nước có thể tiếp cận các nhà đầu tư quốc tế ở các giai đoạn
tiếp theo. Khi đó, Quỹ có thể trở thành cánh tay nối dài giữa chính quyền,
doanh nghiệp lớn, startup và dòng vốn quốc tế.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, vốn chỉ là một phần của bài toán. Khi bước vào
giai đoạn tăng trưởng, startup cần hạ tầng sẵn sàng, thị trường để thử nghiệm
và kinh nghiệm vận hành. Ở góc độ doanh nghiệp công nghệ, chúng tôi tin rằng
VNG có thể đóng góp ở cả ba khía cạnh này, từ hạ tầng kỹ thuật như cloud, eKYC,
thanh toán, đến các nền tảng kỹ thuật mà một startup mất nhiều thời gian, chi
phí để xây dựng trong giai đoạn đầu. Về thị trường, VNG có thể tạo điều kiện để
startup thử nghiệm sản phẩm trên hệ sinh thái của chúng tôi trước khi mở rộng
quy mô. Về vận hành, chúng tôi có thể chia sẻ kinh nghiệm 20 năm xây dựng các sản
phẩm công nghệ ở quy mô lớn, đặc biệt ở thị trường quốc tế, cho startup. Các
hình thức đồng hành sẽ được xây dựng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của
startup, với định hướng đóng góp thực chất thay vì chỉ dừng lại ở vai trò nhà đầu
tư vốn.</p>
<p class="text-justify">Theo quan sát từ thực tế, điểm nghẽn lớn nhất của startup Việt
không nằm ở ý tưởng, mà ở khả năng đưa sản phẩm ra thị trường và duy trì tăng
trưởng khi mở rộng quy mô. Nhiều doanh nghiệp gặp khó trong việc tiếp cận khách
hàng đầu tiên đủ lớn để kiểm chứng mô hình kinh doanh, duy trì năng lực vận
hành khi tăng trưởng nhanh và thiếu một hệ sinh thái hỗ trợ hiệu quả.</p>
<p class="text-justify">Đây chính là điểm mà Quỹ có thể tạo ra khác biệt, thông qua
việc kết nối startup với doanh nghiệp lớn để mở lối vào thị trường, hỗ trợ tiếp
cận hạ tầng dùng chung và nâng cao năng lực vận hành trong giai đoạn tăng trưởng
sớm. Nếu làm được điều này, Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ Chí Minh không chỉ giải
quyết bài toán vốn mà còn góp phần giải quyết bài toán “sống còn” của startup
Việt”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86118">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/185b882d7475452ca85cc7961fda9390-86118.png" alt="Kỳ vọng về Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Chí Minh - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86119" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/1db1da0184874c78961259b3ce212650-86119.png" alt="Kỳ vọng về Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Chí Minh - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Chúng tôi đánh giá mô hình hợp tác công – tư của Quỹ Đầu tư
mạo hiểm TP. Hồ Chí Minh là rất thực tiễn và hiệu quả. Mô hình này không chỉ kết
hợp được kỷ luật và tốc độ của khu vực tư nhân với định hướng chiến lược của
Nhà nước, mà còn góp phần giảm thiểu rủi ro giai đoạn đầu thông qua các cơ chế
hỗ trợ như miễn thuế thu nhập từ chuyển nhượng cổ phần startup đổi mới sáng tạo,
qua đó củng cố niềm tin của nhà đầu tư.</p>
<p class="text-justify">Với Nghị quyết 98/2023/QH15 về thí điểm một số cơ chế, chính
sách đặc thù riêng cho TP. Hồ Chí Minh, đây là lần đầu tiên thành phố áp dụng
cơ chế chấp nhận rủi ro có kiểm soát và miễn trừ trách nhiệm cho nhà quản lý quỹ
nếu tuân thủ đúng quy trình, ngay cả khi khoản đầu tư không thành công. Điều
này giúp tháo gỡ rào cản tâm lý, cho phép Quỹ thực hiện các quyết định đầu tư
có tính toán vào các lĩnh vực mới nổi như AI, bán dẫn và công nghệ xanh. Tuy
nhiên, để giảm thiểu rủi ro, Quỹ cần áp dụng chiến lược quản lý danh mục chặt
chẽ, phân bổ hợp lý theo từng lĩnh vực và giai đoạn, qua đó vừa nắm bắt cơ hội
dài hạn, vừa duy trì khả năng chống chịu trước các khoản đầu tư rủi ro cao.</p>
<p class="text-justify">Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút vốn ngày càng gia tăng trong
khu vực, TP.Hồ Chí Minh tiếp tục khẳng định lợi thế với vai trò “động cơ số” của
nền kinh tế, sở hữu nguồn nhân lực công nghệ dồi dào và hệ sinh thái khởi nghiệp
năng động. Nếu được vận hành hiệu quả, Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ Chí Minh có
thể đóng vai trò như một “bảo chứng thể chế”, giúp giảm thiểu rủi ro cho nhà đầu
tư và gia tăng sức hấp dẫn của startup đối với dòng vốn tư nhân và quốc tế. Đồng
thời, việc kết nối với các doanh nghiệp lớn trong hệ sinh thái sẽ giúp startup
rút ngắn thời gian mở rộng quy mô và tiếp cận thị trường.</p>
<p class="text-justify">Từ góc độ nhà đầu tư, các lĩnh vực ưu tiên như AI, bán dẫn,
công nghệ sinh học hay năng lượng tái tạo đều đòi hỏi nguồn vốn lớn và thời
gian hoàn vốn dài, trong khi Việt Nam vẫn thiếu nguồn vốn “kiên nhẫn”. Bên cạnh
đó, khung pháp lý trong một số ngành có thể chưa theo kịp tốc độ phát triển
công nghệ. Do đó, việc áp dụng chiến lược quản lý danh mục chặt chẽ, phân bổ hợp
lý theo từng giai đoạn và lĩnh vực là yếu tố then chốt để vừa nắm bắt cơ hội
dài hạn, vừa kiểm soát rủi ro.</p>
<p class="text-justify">Trong bối cảnh đó, việc tham gia Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ
Chí Minh hoàn toàn phù hợp với chiến lược dài hạn của VinaCapital trong việc đồng
hành cùng tăng trưởng của Việt Nam. Chúng tôi không chỉ cung cấp vốn mà còn
mang đến kinh nghiệm đầu tư, mạng lưới toàn cầu và khả năng kết nối nhà đầu tư
quốc tế, qua đó hỗ trợ các doanh nghiệp Việt Nam mở rộng quy mô và tham gia sâu
hơn vào chuỗi giá trị khu vực.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi kỳ vọng, với nền tảng pháp lý và sự phối hợp chặt
chẽ giữa Nhà nước và khu vực tư nhân, Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ Chí Minh sẽ trở
thành bệ phóng cho các doanh nghiệp đổi mới sáng tạo tham vọng nhất, góp phần định
hình hệ sinh thái công nghệ của TP. Hồ Chí Minh trong thời gian tới”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86120">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/ba955e8812e749c0890f2f422ffb0dbe-86120.png" alt="Kỳ vọng về Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP.Hồ Chí Minh - Ảnh 8">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Khoa học công nghệ: Động lực đưa thủy sản Việt Nam bứt phá</title><description>Ng#224;nh thủy sản Việt Nam đang duy tr#236; đ#224; tăng trưởng ấn tượng với kim ngạch xuất khẩu hơn 11 tỷ USD mỗi năm, đ#227; vươn l#234;n thứ ba thế giới về gi#225; trị xuất khẩu. Tuy nhi#234;n, trước những th#225;ch thức về giống, m#244;i trường v#224; c#244;ng nghệ, việc đẩy mạnh đổi mới s#225;ng tạo trở th#224;nh y#234;u cầu cấp thiết. </description><pubDate>Fri, 01 May 2026 01:00:00 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/khoa-hoc-cong-nghe-dong-luc-dua-thuy-san-viet-nam-but-pha-1290869.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/khoa-hoc-cong-nghe-dong-luc-dua-thuy-san-viet-nam-but-pha-1290869.htm</guid><atom:link href="/khoa-hoc-cong-nghe-dong-luc-dua-thuy-san-viet-nam-but-pha-1290869.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/62124fc73d89435080c4fe1625635d64-86365.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Ngành thủy sản Việt Nam đang duy trì đà tăng trưởng ấn tượng với kim ngạch xuất khẩu hơn 11 tỷ USD mỗi năm, đã vươn lên thứ ba thế giới về giá trị xuất khẩu. Tuy nhiên, trước những thách thức về giống, môi trường và công nghệ, việc đẩy mạnh đổi mới sáng tạo trở thành yêu cầu cấp thiết. </h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="86360">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/520c55cedf774eaea50443dc2e9d2012-86360.png" alt="Khoa học công nghệ: Động lực đưa thủy sản Việt Nam bứt phá - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86361" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/5ef5a5c57b77488e8e1ee377fef1d2d5-86361.png" alt="Khoa học công nghệ: Động lực đưa thủy sản Việt Nam bứt phá - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Ông có thể đánh giá tổng quan về kết quả nổi bật mà ngành thủy sản Việt
Nam đã đạt được và định hướng chiến lược của ngành trong thời gian tới?</i></b></p>
<p class="text-justify">Ngành thủy sản Việt Nam đang ghi nhận những kết quả ấn tượng
cả về sản lượng và giá trị xuất khẩu. Năm 2025, tổng sản lượng thủy sản đạt gần
10 triệu tấn, với kim ngạch xuất khẩu khoảng 11,3 tỷ USD, đưa Việt Nam vươn lên
vị trí thứ tư thế giới về sản lượng và đứng thứ ba về giá trị xuất khẩu.</p>
<p class="text-justify">Đà tăng trưởng tiếp tục được duy trì trong quý 1/2026, khi sản
lượng thu hoạch đạt 2,184 triệu tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm 2025; trong
đó cá đạt 1,6219 triệu tấn (tăng 2,8%) và tôm đạt 229,8 nghìn tấn (tăng 6,2%).
Kim ngạch xuất khẩu thủy sản trong quý 1/2026 đạt 2,64 tỷ USD, tăng gần 8% so với
cùng kỳ năm trước. </p>
<p class="text-justify">Các nhóm sản phẩm thủy sản chủ lực tiếp tục đóng vai trò
quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam, trong đó: tôm giữ vị trí dẫn đầu
với kim ngạch khoảng 4,6 tỷ USD mỗi năm, khẳng định lợi thế cạnh tranh trên thị
trường quốc tế; cá tra với giá trị xuất khẩu xấp xỉ 2 tỷ USD/năm, góp phần duy
trì vị thế của Việt Nam trong phân khúc thủy sản nước ngọt. Bên cạnh đó, khai
thác biển mang lại nguồn thu đáng kể, ước đạt từ 3,5 đến 3,7 tỷ USD mỗi năm.
Đáng chú ý, nuôi biển được đánh giá là lĩnh vực còn nhiều dư địa phát triển, trở
thành động lực tăng trưởng mới cho toàn ngành trong thời gian tới.</p>
<p class="text-justify">Không chỉ đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế, ngành thủy sản
hiện còn tạo sinh kế cho hơn 4 triệu lao động, giữ vai trò quan trọng trong
phát triển kinh tế biển và góp phần bảo đảm chủ quyền quốc gia trên biển. </p>
<p class="text-justify">Về định hướng dài hạn, ngành đặt mục tiêu đến năm 2030 đạt sản
lượng 9,8 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu từ 14-16 tỷ USD. Để duy trì sản lượng
hải sản, trong bối cảnh sẽ phải giảm đánh bắt trên biển, chúng ta phải phát triển
nuôi biển trở thành ngành công nghiệp quy mô lớn. Tầm nhìn đến năm 2045, thủy sản
tiếp tục là ngành kinh tế mũi nhọn, đưa Việt Nam trở thành trung tâm chế biến
thủy sản sâu, nằm trong nhóm ba quốc gia hàng đầu thế giới. </p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86362" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/483f8113192d43a8b0b8558db9d4122e-86362.png" alt="Khoa học công nghệ: Động lực đưa thủy sản Việt Nam bứt phá - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Theo ông, những thách thức lớn nhất mà ngành thủy sản Việt Nam đang đối
mặt hiện nay là gì?</i></b></p>
<p class="text-justify">Ngành thủy sản Việt Nam hiện đang đối mặt với nhiều vấn đề lớn
cần được giải quyết đồng bộ nhằm hướng tới phát triển bền vững. Trong lĩnh vực
giống, đặc biệt là giống tôm, sự phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu vẫn còn cao,
trong khi công nghệ chọn giống trong nước còn chậm phát triển. </p>
<p class="text-justify">Đối với nuôi biển, hoạt động hiện nay chủ yếu diễn ra ở khu
vực gần bờ, dẫn đến nguy cơ ô nhiễm môi trường và hiệu quả kinh tế chưa cao.
Trong khi các quốc gia như Na Uy và Trung Quốc đã phát triển các mô hình nuôi
biển công nghiệp quy mô lớn, hiện đại, thì Việt Nam vẫn còn tình trạng sản xuất
nhỏ lẻ, manh mún. </p>
<p class="text-justify">Trong khai thác thủy sản, đội tàu còn nhỏ, công nghệ bảo quản
lạc hậu khiến tổn thất sau thu hoạch ở mức cao, từ 15-40%. Điều này đặt ra yêu
cầu cấp thiết phải hiện đại hóa đội tàu, cải tiến công nghệ bảo quản, đồng thời
giảm cường lực khai thác và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư quy mô lớn. Bên cạnh
đó, các vấn đề về môi trường như ô nhiễm vùng nuôi ven bờ và dịch bệnh gia tăng
cũng đang là thách thức, đòi hỏi phải phát triển nuôi xa bờ gắn với công nghệ xử
lý môi trường hiệu quả.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86363" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/0dcc72c7ecac4a85ad1d4c7fd6f12e25-86363.png" alt="Khoa học công nghệ: Động lực đưa thủy sản Việt Nam bứt phá - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Vậy, ông cho biết đâu là giải pháp khoa học và công nghệ trọng tâm để
phát triển bền vững ngành thủy sản?</i></b></p>
<p class="text-justify">Trong giai đoạn 2021-2025, lĩnh vực thủy sản và kiểm ngư đã
triển khai 113 nhiệm vụ khoa học và công nghệ, trong đó 60 nhiệm vụ đã được
nghiệm thu, mang lại nhiều kết quả thiết thực cho sản xuất. Đáng chú ý, công
tác nghiên cứu và sản xuất giống đã giúp ngành chủ động hơn 80% nguồn cung con
giống thủy sản chủ lực, với trên 95% đạt tiêu chuẩn sạch bệnh. Cùng với đó, các
quy trình công nghệ về nuôi trồng, chế phẩm sinh học, xử lý môi trường, phòng
trị bệnh, khai thác và bảo quản đã được ứng dụng rộng rãi, chiếm khoảng 90% diện
tích và sản lượng, góp phần duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định của ngành ở mức
4-5% mỗi năm.</p>
<p class="text-justify">Khoa học công nghệ được đánh giá là yếu tố then chốt thúc đẩy
sự phát triển của ngành thủy sản trong thời gian qua, đặc biệt đối với cá tra.
Sau hơn 25 năm phát triển, ngành cá tra đã hình thành chuỗi sản xuất tương đối
hoàn chỉnh, từ con giống, thức ăn, dinh dưỡng, quy trình nuôi, an toàn sinh học,
vaccine, thu hoạch đến chế biến và xuất khẩu, bao gồm cả các sản phẩm giá trị
gia tăng. </p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, thực tế cho thấy các đề tài nghiên cứu hiện nay vẫn
chủ yếu tập trung vào các giải pháp kỹ thuật đơn lẻ như nâng cao tỷ lệ sống, cải
tiến thức ăn giai đoạn đầu hay tối ưu quy trình nuôi, trong khi yêu cầu đặt ra
là phải chuyển sang nghiên cứu theo chuỗi giá trị, mang tính liên ngành và liên
lĩnh vực.</p>
<p class="text-justify">Trong lĩnh vực nuôi biển, các kỹ thuật và mô hình sản xuất
hiện nay tại Việt Nam chủ yếu tập trung vào hai đối tượng chính là cá chim và
cá nhụ. Đây được xem là những đối tượng nuôi tiềm năng, cần tiếp tục hoàn thiện
quy trình kỹ thuật trong thời gian tới nhằm nâng cao hiệu quả, tạo ra sản lượng
ổn định với quy mô lớn phục vụ xuất khẩu. </p>
<p class="text-justify">Với giá trị kinh tế cao và nhu cầu tiêu thụ rộng, đặc biệt tại
các thị trường như Trung Quốc, Đài Loan và Singapore, cá chim và cá nhụ được kỳ
vọng sẽ trở thành những sản phẩm chủ lực, góp phần thúc đẩy phát triển nuôi biển
theo hướng công nghiệp và bền vững.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, lĩnh vực tiềm năng như rong biển - một ngành
công nghiệp lớn trên thế giới trong các lĩnh vực thực phẩm và mỹ phẩm, nhưng tại
Việt Nam vẫn chưa được khai thác hiệu quả do hạn chế về vùng nguyên liệu. Các đối
tượng nuôi mới như cá chim vây vàng, cá cam cũng đang trong giai đoạn khởi động,
song được đánh giá có tiềm năng lớn nhờ nhu cầu cao từ các thị trường như Nhật
Bản và Trung Quốc.</p>
<p class="text-justify">Trong giai đoạn tới, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo
được xác định là động lực then chốt thúc đẩy ngành thủy sản phát triển bền vững.
Trọng tâm sẽ là nghiên cứu, phát triển các giống thủy sản chủ lực theo hướng sạch
bệnh, sinh trưởng nhanh và thích ứng tốt với điều kiện nuôi. Đồng thời, ngành sẽ
đẩy mạnh ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sinh học và công nghệ số vào toàn bộ
chuỗi sản xuất, từng bước hình thành các mô hình nuôi trồng thủy sản thông
minh. </p>
<p class="text-justify">Đáng chú ý, ngành thủy sản sẽ hướng tới phát triển theo mô
hình kinh tế tuần hoàn và kinh tế xanh, góp phần bảo vệ môi trường, sử dụng hiệu
quả tài nguyên và nâng cao giá trị gia tăng cho sản phẩm. </p>
<p class="text-justify">Về cơ chế, ngành cần thúc đẩy tự chủ thực chất trong khoa học
và công nghệ, thông qua việc giao quyền đi đôi với trách nhiệm, kiểm soát theo
hiệu quả đầu ra và cho phép thương mại hóa các sản phẩm nghiên cứu.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86364" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/fcf8c3e199124176a5e56f227a0bff99-86364.png" alt="Khoa học công nghệ: Động lực đưa thủy sản Việt Nam bứt phá - Ảnh 5">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Đòn bẩy “vốn mồi” và tư duy “chấp nhận rủi ro”</title><description>Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ Ch#237; Minh ra mắt ng#224;y 17/4/2026, được tổ chức v#224; vận h#224;nh theo m#244; h#236;nh c#244;ng ty cổ phần, đ#225;nh dấu bước chuyển từ cơ chế hỗ trợ h#224;nh ch#237;nh sang đầu tư theo nguy#234;n tắc thị trường trong ph#225;t triển hệ sinh th#225;i đổi mới s#225;ng tạo. </description><pubDate>Fri, 01 May 2026 00:00:00 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/don-bay-von-moi-va-tu-duy-chap-nhan-rui-ro.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/don-bay-von-moi-va-tu-duy-chap-nhan-rui-ro.htm</guid><atom:link href="/don-bay-von-moi-va-tu-duy-chap-nhan-rui-ro.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/6d0b7f96010b440ab0a39125f36a39c0-86330.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ Chí Minh ra mắt ngày 17/4/2026, được tổ chức và vận hành theo mô hình công ty cổ phần, đánh dấu bước chuyển từ cơ chế hỗ trợ hành chính sang đầu tư theo nguyên tắc thị trường trong phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. </h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="86317">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/f262eae552ad4268bcd33a0037091e9a-86317.png" alt="Đòn bẩy “vốn mồi” và tư duy “chấp nhận rủi ro” - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86318" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/2c7cea0454db4c7ba3ee662bfcef21e5-86318.png" alt="Đòn bẩy “vốn mồi” và tư duy “chấp nhận rủi ro” - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Thưa ông, TP. Hồ Chí Minh vừa cho ra mắt Quỹ Đầu tư mạo hiểm với vốn điều
lệ thời gian đầu dự kiến 500 tỷ đồng. Ông có thể chia sẻ thêm về quyết định
trong việc triển khai mô hình quỹ đầu tư theo cơ chế thị trường vào thời điểm
này?</i></b></p>
<p class="text-justify">Việc thành lập Quỹ Đầu tư mạo hiểm TP. Hồ Chí Minh là bước
đi cụ thể hóa thời hai chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về thúc đẩy khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số:</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> Nghị quyết
số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học,
công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> Nghị quyết
số 98/2023/QH15 của Quốc hội ngày 24/6/2023 về thí điểm một số cơ chế, chính
sách đặc thù phát triển TP. Hồ Chí Minh. </p>
<p class="text-justify">Theo Đề án đã được Ủy ban Nhân dân TP. Hồ Chí Minh phê duyệt
tại Quyết định số 1267/QĐ-UBND ngày 4/3/2026, Công ty cổ phần Quỹ đầu tư mạo hiểm
TP.Hồ Chí Minh được thành lập với vốn điều lệ ban đầu dự kiến 500 tỷ đồng
trong năm 2026. Trong đó ngân sách thành phố góp 200 tỷ đồng (tương đương
40%) và khu vực tư nhân, doanh nghiệp góp 300 tỷ đồng (60%).</p>
<p class="text-justify">Quỹ ra đời trong bối cảnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo
phát triển nhanh, kéo theo nhu cầu ngày càng lớn về các định chế tài chính phù
hợp, đặc biệt ở giai đoạn đầu. Trên cơ sở đó, thành phố lựa chọn mô hình Quỹ Đầu
tư mạo hiểm vận hành theo cơ chế thị trường, có kiểm soát rủi ro, nhằm mở rộng
khả năng tiếp cận vốn và đa dạng hóa công cụ tài chính cho doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo.</p>
<p class="text-justify">Đáng chú ý, Quỹ được thiết kế theo mô hình hợp tác công –
tư, trong đó ngân sách nhà nước đóng vai trò “vốn mồi”, góp phần tạo tín hiệu
tích cực cho thị trường và thu hút thêm nguồn lực xã hội tham gia vào hệ sinh
thái khởi nghiệp sáng tạo của thành phố. Đồng thời, Quỹ cũng là công cụ thúc đẩy
cơ chế phối hợp “4 nhà” – nhà nước, viện/trường, doanh nghiệp và cộng đồng, xã
hội dân sự – qua đó tăng cường liên kết giữa nghiên cứu, đào tạo, sản xuất và
thị trường, giúp các kết quả đổi mới sáng tạo được thương mại hóa hiệu quả hơn.</p>
<p class="text-justify">Có thể nói, đây là thời điểm “chín muồi” để thành phố triển
khai mô hình này, khi các yếu tố về thể chế, thị trường và hệ sinh thái đã hội
tụ tương đối đầy đủ. Đặc biệt, sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt từ lãnh đạo
Trung ương, trực tiếp là đồng chí Tổng Bí thư, cùng với sự chỉ đạo sâu sát của
lãnh đạo Thành ủy TP.Hồ Chí Minh, đã tạo động lực và niềm tin mạnh mẽ cho việc
hình thành Quỹ.  Việc ra đời Quỹ Đầu tư mạo
hiểm của thành phố vì vậy không chỉ mang ý nghĩa về mặt tài chính, mà còn là một
dấu mốc quan trọng trong tiến trình phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo,
khẳng định vai trò tiên phong của TP.Hồ Chí Minh trong cả nước.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86319" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/16d4e3a11c884d8f954a6e4f12be8dd6-86319.png" alt="Đòn bẩy “vốn mồi” và tư duy “chấp nhận rủi ro” - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Cụ thể, cơ chế “vốn mồi” của Quỹ trong việc giúp chuyển từ hỗ trợ hành
chính sang đầu tư thực chất cho hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo như thế nào?</i></b></p>
<p class="text-justify">Cơ chế “vốn mồi” đóng vai trò dẫn dắt và tạo tín hiệu thị
trường. Sự tham gia của ngân sách thành phố (40%) đã lập tức kích hoạt dòng vốn
đối ứng 300 tỷ đồng (60%) từ khu vực tư nhân, với sự góp vốn mạnh mẽ từ các tập
đoàn kinh tế hàng đầu như Sovico, Vingroup, Becamex, FPT, VNG.</p>
<p class="text-justify">Đáng chú ý , dòng vốn này không chỉ mang theo tiền mà còn
mang theo kinh nghiệm quản trị, mạng lưới khách hàng và kênh thị trường mà các
tập đoàn này đang sở hữu. Chính sự đồng hành toàn diện này là giá trị thực sự,
giúp Quỹ dịch chuyển từ hỗ trợ hành chính sang đầu tư thực chất, chuyên nghiệp,
tiệm cận thông lệ quốc tế.</p>
<p class="text-justify">Quỹ được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, đảm bảo sự
tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền điều hành. Nhà nước tham gia với vai trò cổ
đông góp vốn mồi, tập trung vào kiến tạo thể chế, giám sát tuân thủ và bảo đảm
minh bạch; không can thiệp vào các quyết định đầu tư cụ thể. </p>
<p class="text-justify"><b><i>Mức độ trao quyền tự chủ cho các startup trong thử nghiệm và phát triển
công nghệ khi quỹ vận hành theo nguyên tắc thị trường là như thế nào?  TP. Hồ Chí Minh sẽ cân bằng ra sao giữa quyền
tự quyết của doanh nghiệp với yêu cầu bảo đảm hiệu quả sử dụng vốn ngân sách,
thưa ông?</i></b></p>
<p class="text-justify">Khởi nghiệp sáng tạo đòi hỏi sự linh hoạt và tính tự chủ rất
cao để thử nghiệm các mô hình, công nghệ mới. Quỹ là một doanh nghiệp vận hành
theo cơ chế thị trường, nên hoàn toàn tôn trọng quyền tự quyết của startup được
đầu tư theo thỏa thuận trong hợp đồng đầu tư. Việc lựa chọn dự án đầu tư do Quỹ
quyết định trên cơ sở đánh giá chuyên nghiệp các điều kiện, tiêu chí đáp ứng cụ
thể của dự án đã thẩm định.</p>
<p class="text-justify">Quỹ hoàn toàn tự quyết trên cơ sở định hướng các nhóm đối tượng
mục tiêu cụ thể tại đề án thành lập quỹ với sự ưu tiên là các doanh nghiệp khởi
nghiệp sáng tạo, doanh nghiệp có dự án khởi nghiệp sáng tạo có hàm lượng tri thức
và công nghệ cao, phù hợp với định hướng tái cơ cấu kinh tế của Thành phố.
Thành phố xác định rõ: khu vực tư nhân làm tốt hơn ở đâu, Thành phố sẽ trao quyền
để họ thực hiện ở đó.</p>
<p class="text-justify">Tác động của mô hình Quỹ này chính là việc thu hút vốn của
các nhà đầu tư trong và ngoài nước vào Thành phố để đầu tư cho startup, xây dựng
Thành phố trở thành điểm đến cho các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo và quỹ đầu
tư, đồng thời thúc đẩy phát triển những lĩnh vực ưu tiên của Thành phố.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86325" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/dd870266464f453a802ab09b3d060c36-86325.png" alt="Đòn bẩy “vốn mồi” và tư duy “chấp nhận rủi ro” - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>TP. Hồ Chí Minh hiện chiếm gần 50% số startup của cả nước nhưng nguồn vốn
đầu tư mạo hiểm nội địa vẫn còn hạn chế. Quỹ này sẽ giúp giải quyết “khoảng trống
vốn” này các doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo như thế nào?</i></b></p>
<p class="text-justify">Dù hệ sinh thái khởi nghiệp phát triển nhanh, chúng ta vẫn
còn thiếu các định chế tài chính nội địa đủ mạnh, khiến nhiều dự án tiềm năng
rơi vào “khoảng trống vốn” ở giai đoạn đầu. Quỹ Đầu tư mạo hiểm ra đời nhằm hỗ
trợ giải quyết vấn đề này bằng việc thẩm định những dự án tiềm năng từ vòng gọi
vốn sớm – thời điểm có rủi ro cao và khó tiếp cận tín dụng truyền thống nhất.
Tác động mang lại là hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, đặc biệt trong lĩnh vực
kinh tế số và công nghệ cao, được trợ lực kịp thời, giữ chân các startup công
nghệ xuất sắc ở lại thị trường nội địa thay vì chuyển sang các quốc gia khác để
thu hút vốn đầu tư.</p>
<p class="text-justify"><b><i>Đầu tư mạo hiểm vốn có mức độ rủi ro cao. Theo ông, cơ chế chấp nhận rủi
ro có kiểm soát trong đề án sẽ tạo ra môi trường đầu tư mới như thế nào?</i></b></p>
<p class="text-justify">Điểm đột phá lớn nhất của Đề án chính là việc thiết lập
khung chấp nhận rủi ro có kiểm soát đối với vốn nhà nước. Về mặt chính sách,
chúng ta chấp nhận một thực tế: trong đầu tư mạo hiểm, không phải dự án nào
cũng thành công. Vì vậy, thay vì áp dụng yêu cầu bảo toàn vốn cứng nhắc cho từng
dự án, chúng tôi đánh giá hiệu quả dựa trên tổng thể danh mục đầu tư trong chu
kỳ vận hành. Tổng mức tổn thất tối đa được đặt ở ngưỡng 50% phần vốn nhà nước
trong vốn điều lệ của Quỹ.  Đây là một cơ
chế rõ ràng và minh bạch. </p>
<p class="text-justify">Đề án còn áp dụng cơ chế miễn trừ trách nhiệm đối với người
đại diện vốn và cá nhân có thẩm quyền nếu đã tuân thủ đúng quy trình. Cách tiếp
cận này đã giải tỏa tâm lý e ngại trong khu vực công. Sự tiên phong dấn thân của
vốn mồi Nhà nước sẽ khích lệ tinh thần dám nghĩ dám làm, kiến tạo một môi trường
đầu tư thông thoáng, minh bạch, giúp hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo của
Thành phố bứt phá và thu hút mạnh mẽ nguồn lực xã hội.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86327" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/5d650aecdd484dbb9ed7110c1ae9a19c-86327.png" alt="Đòn bẩy “vốn mồi” và tư duy “chấp nhận rủi ro” - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Thành phố đặt mục tiêu kinh tế đổi mới sáng tạo và công nghệ cao đóng
góp khoảng 20–25% GRDP vào năm 2030. Theo ông, Quỹ Đầu tư mạo hiểm sẽ đóng vai
trò như thế nào trong việc hiện thực hóa mục tiêu này?</i></b></p>
<p class="text-justify">Hoạt động của Quỹ không chỉ là rót vốn mà là một công cụ kiến
tạo chiến lược của Thành phố. Quỹ được xác định là một trong những công cụ tài
chính then chốt để hiện thực hóa mục tiêu nâng cao tỷ trọng kinh tế số và các
lĩnh vực công nghệ cao trong GRDP. Quỹ cung cấp nguồn vốn mạo hiểm kết hợp với
tư vấn quản trị, hỗ trợ mở rộng thị trường và kết nối mạng lưới nhà đầu tư
chuyên nghiệp. </p>
<p class="text-justify">Về tầm nhìn dài hạn, hoạt động của Quỹ được kỳ vọng sẽ góp
phần hình thành một thế hệ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo có năng lực cạnh tranh
mạnh mẽ ở tầm quốc gia và khu vực. Điều này sẽ khẳng định vị thế tiên phong của
TP.Hồ Chí Minh trong hệ sinh thái khởi nghiệp và đóng góp thiết thực vào việc
nâng cao tỷ trọng kinh tế tri thức trong cơ cấu GRDP bền vững của Thành phố.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86329" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/1bac49e6ca1f4b289a9782fdb98fc36b-86329.png" alt="Đòn bẩy “vốn mồi” và tư duy “chấp nhận rủi ro” - Ảnh 6">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Phát triển hành lang sông Sài Gòn: Cần “cú hích” từ quy hoạch tích hợp</title><description>Trao đổi với Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, TS. Huỳnh Đạt Vũ Khoa, Gi#225;m đốc Mạng lưới Năng lượng v#224; Biển AVSE Global, đồng thời l#224; Cố vấn cao cấp tại Viện Địa kỹ thuật Na Uy, nhấn mạnh để h#224;nh lang s#244;ng S#224;i G#242;n ph#225;t huy hiệu quả, Th#224;nh phố cần một b#224;i to#225;n t#224;i ch#237;nh linh hoạt v#224; cơ chế quản trị vượt ra khỏi những tư duy ngắn hạn.</description><pubDate>Thu, 30 Apr 2026 04:48:28 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/phat-trien-hanh-lang-song-sai-gon-can-cu-hich-tu-quy-hoach-tich-hop.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/phat-trien-hanh-lang-song-sai-gon-can-cu-hich-tu-quy-hoach-tich-hop.htm</guid><atom:link href="/phat-trien-hanh-lang-song-sai-gon-can-cu-hich-tu-quy-hoach-tich-hop.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/4ee15b2ba34042b99b6104f0b5f221c5-86350.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, TS. Huỳnh Đạt Vũ Khoa, Giám đốc Mạng lưới Năng lượng và Biển AVSE Global, đồng thời là Cố vấn cao cấp tại Viện Địa kỹ thuật Na Uy, nhấn mạnh để hành lang sông Sài Gòn phát huy hiệu quả, Thành phố cần một bài toán tài chính linh hoạt và cơ chế quản trị vượt ra khỏi những tư duy ngắn hạn.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="86342">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/df6ce27244a542af96870eb26638bf19-86342.png" alt="Phát triển hành lang sông Sài Gòn: Cần “cú hích” từ quy hoạch tích hợp - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86343" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/7c02ff934ee941fe895c6e061760adc9-86343.png" alt="Phát triển hành lang sông Sài Gòn: Cần “cú hích” từ quy hoạch tích hợp - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Theo ông, quy hoạch hành lang sông Sài Gòn cần những yếu tố nào để trở
thành “xương sống” trong cấu trúc phát triển của TP.Hồ Chí Minh, đặc biệt là
khi đô thị đang mở rộng và hướng tới mô hình đa trung tâm?</i></b></p>
<p class="text-justify">Để sông Sài Gòn thực sự trở thành xương sống của TP.Hồ Chí
Minh thay vì chỉ là dải cảnh quan ven nước, cần bảo đảm ba nhóm yếu tố cốt lõi.</p>
<p class="text-justify">Thứ nhất, tầm nhìn dài hạn, nhất quán và được bảo vệ về mặt
thể chế. Báo cáo chiến lược của Viện Quy hoạch vùng Paris và Tổ chức Khoa học
và Chuyên gia Việt Nam toàn cầu xác định hành lang sông Sài Gòn là dòng chảy cơ
hội theo khung “CƠ HỘI”, kéo dài toàn bộ 80 km qua địa bàn thành phố, với định
hướng phân vùng chức năng từ thượng nguồn Củ Chi đến hạ lưu Cần Giờ.</p>
<p class="text-justify">Trong đó, “C-Ơ-H-Ộ-I” được diễn giải thành 5 trụ cột chiến
lược gồm: Connection (gắn kết cộng đồng và vùng), Opulence (thịnh vượng
toàn diện), Happiness (hạnh phúc), Openness (mở ra thế giới) và Innovation (đổi
mới bền vững).</p>
<p class="text-justify">Trên trục sông Sài Gòn, TP.Hồ Chí Minh có thể khai thác 4
nhóm cơ hội trọng điểm gồm: đổi mới kinh tế - công nghệ; kết nối kinh doanh và
định vị trung tâm khu vực; nâng cao chất lượng sống và phát triển du lịch, văn
hóa sông nước. Với vai trò “xương sống” vật lý, sông Sài Gòn là không gian hiếm
hoi có thể đồng thời hiện thực hóa các nhóm cơ hội này.</p>
<p class="text-justify">Tầm quan trọng của tầm nhìn này thể hiện qua số liệu: TP.Hồ
Chí Minh hiện đóng góp khoảng 22% GDP cả nước, nhưng tổn thất kinh tế do ngập lụt
đang ở mức 1,3 tỷ USD/năm và được dự báo tăng lên 8,7 tỷ USD, tương đương 3%
GRDP vào năm 2050 nếu không có can thiệp quy hoạch đúng hướng. Trong bối cảnh
đó, đầu tư vào quy hoạch hành lang sông bền vững không phải là chi phí, đó là
“bảo hiểm kinh tế chiến lược”.</p>
<p class="text-justify">Thứ hai, cần tích hợp hành lang sông vào quy hoạch tổng thể,
đặc biệt trong bối cảnh TP.Hồ Chí Minh phát triển mô hình siêu đô thị sau sáp
nhập. Hành lang sông không thể là một dự án riêng lẻ mà phải trở thành trục
xuyên suốt các quyết định về giao thông, nhà ở, công nghiệp và hạ tầng xanh.
Trong quá trình định hình bản sắc đô thị, lợi thế sông nước Sài Gòn cần được đặt
ở vị trí trung tâm chiến lược. Khi được quy hoạch đúng tầm, sông Sài Gòn không
chỉ là hạ tầng mà còn là yếu tố nhận diện của siêu đô thị. Nghị quyết
98/2023/QH15 tạo cơ sở pháp lý để Thành phố chủ động phát triển không gian sông
nước đến tầm nhìn 2060, trong khi Quyết định 1528/QĐ-TTg xác định TP.Hồ Chí
Minh trở thành trung tâm giao thương, tài chính và logistics, với sông Sài Gòn
là trục kết nối then chốt.</p>
<p class="text-justify">Thứ ba, yêu cầu về mô hình quản trị đa tầng, có khả năng điều
phối liên tỉnh. Sông Sài Gòn kết nối với Bình Dương, Tây Ninh, Bình Phước ở thượng
nguồn và với hệ thống cảng Cái Mép - Thị Vải ở hạ lưu. Đề xuất có thể thành lập
một ban quản lý tài nguyên nước cấp vùng, tương tự các Water Authority ở Hà Lan
hay Ủy ban Lưu vực sông (Comité de Bassin) tại Pháp, đảm bảo tính đồng bộ dài hạn
mà không có bộ máy nào trong từng địa phương riêng lẻ có thể thay thế.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86344" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/dbe3961e92c847af8407cb893db801f7-86344.png" alt="Phát triển hành lang sông Sài Gòn: Cần “cú hích” từ quy hoạch tích hợp - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Trong thực tế triển khai, theo ông, đâu là thách thức lớn nhất để chuyển
các định hướng quy hoạch hành lang sông Sài Gòn thành các dự án cụ thể và đồng
bộ trên thực địa?</i></b></p>
<p class="text-justify">Dù định hướng chiến lược đã dần rõ nét, quá trình triển khai
trên thực tế vẫn đối mặt với nhiều thách thức. Theo đánh giá, khoảng cách giữa
tầm nhìn và năng lực thực thi đang bị chi phối bởi bốn nhóm lực cản chính.</p>
<p class="text-justify">Thứ nhất, điều kiện địa chất phức tạp. Tầng đất yếu Holocen
chiếm khoảng 63% diện tích Thành phố, với độ dày từ 2-16m ở khu vực trung tâm
và có thể vượt 30m tại vùng phía Nam. Dữ liệu quan trắc cho thấy tốc độ lún
trung bình trong giai đoạn 2006-2020 dao động 2-5cm mỗi năm, tại một số khu vực
đô thị hóa cao đạt 7 - 8 cm/năm. TP.Hồ Chí Minh hiện đứng trong nhóm 10 thành
phố chìm nhanh nhất thế giới, cùng với Thượng Hải, Jakarta và Bangkok.</p>
<p class="text-justify">Hệ quả là mọi công trình ven sông đều phải tính đến biến dạng
dài hạn và tương tác với mực nước ngầm, đòi hỏi khảo sát địa kỹ thuật chuyên
sâu và giải pháp thiết kế đặc thù, không thể áp dụng máy móc tiêu chuẩn từ các
đô thị khác.</p>
<p class="text-justify">Thứ hai, tình trạng phân tán đất đai và mức độ cứng hóa bờ
sông cao. Dọc hơn 106 km sông qua địa bàn thành phố, tỷ lệ bờ kè cứng tại khu vực
trung lưu lên tới 73%, trong khi hạ lưu khoảng 48%. Cùng với đó, quyền sử dụng
đất đan xen giữa nhiều loại hình như cảng, công nghiệp, dân cư và nông nghiệp,
gây khó khăn cho việc tổ chức không gian thống nhất. </p>
<p class="text-justify">Thứ ba, rủi ro phát triển thiếu kết nối. Kinh nghiệm từ
Bangkok (Thái Lan) cho thấy, nhiều dự án ven sông Chao Phraya là rất đáng ghi
nhận nhưng thiếu quy hoạch tích hợp, dẫn đến hai bờ bị chia cắt bởi hàng rào tư
nhân, không gian công cộng không liên tục. Tính kết nối vật lý liên tục dọc hai
bờ là điều kiện tiên quyết.</p>
<p class="text-justify">Thứ tư, mô hình tài chính chưa đủ đa dạng. Với quy mô hành
lang dài 80 km, nguồn ngân sách công không thể đáp ứng toàn bộ nhu cầu đầu tư.
Do đó, cần cơ cấu huy động vốn hỗn hợp, gồm nhượng quyền có thời hạn tại khu vực
công viên Thanh Đa (300 ha), phát triển mô hình phát triển đô thị định hướng
giao thông công cộng (TOD) quanh các ga metro ven sông và áp dụng PPP linh hoạt
theo từng phân khu.</p>
<p class="text-justify">Kinh nghiệm từ Copenhagen (Đan Mạch) và Bordeaux (Pháp) cho
thấy khi có khung pháp lý rõ ràng và tầm nhìn dài hạn ổn định, khu vực tư nhân
sẵn sàng tham gia đầu tư mạnh vào các khu vực ven nước vốn trước đây bị bỏ
hoang.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86345" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/d222fb99c9e84584acbcba1e52d31fb9-86345.png" alt="Phát triển hành lang sông Sài Gòn: Cần “cú hích” từ quy hoạch tích hợp - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Trong bối cảnh TP.Hồ Chí Minh mở rộng không gian phát triển và tăng cường
liên kết vùng, vai trò của logistics đường thủy trên sông Sài Gòn có thể được
khai thác hiệu quả hơn như thế nào để giảm áp lực cho đường bộ?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đây là tiềm năng đang bị khai thác dưới mức, tạo nên một nghịch
lý đối với đô thị hình thành từ văn hóa sông nước và càng trở nên cấp thiết
trong bối cảnh hiện nay.</p>
<p class="text-justify">Trong tiến trình định hình mô hình siêu đô thị sau sáp nhập,
TP.Hồ Chí Minh đứng trước yêu cầu tối ưu liên kết không gian và xây dựng bản sắc
rõ nét. Khi đó, logistics đường thủy không còn là bài toán giao thông đơn thuần
mà trở thành một cấu phần cốt lõi của chiến lược phát triển vùng. Bản sắc sông
nước Sài Gòn, nếu được hiện thực hóa qua hệ thống vận tải thủy hiệu quả, có thể
chuyển hóa từ giá trị văn hóa thành lợi thế cạnh tranh kinh tế thực chất của
siêu đô thị mới.</p>
<p class="text-justify">Về lợi thế địa lý, dòng sông kết nối trực tiếp TP.Hồ Chí
Minh với cụm cảng Cái Mép - Thị Vải, mạng lưới kênh rạch Đồng bằng sông Cửu
Long và các khu công nghiệp lớn tại Bình Dương, Đồng Nai. Tuy nhiên, phần lớn
hàng hóa vẫn phải vận chuyển bằng đường bộ, tạo ra sự bất hợp lý về chi phí và
lưu thông.</p>
<p class="text-justify">Kinh nghiệm quốc tế cho thấy vận tải đường thủy có thể mang
lại hiệu quả kinh tế rõ rệt. Tại Paris (Pháp), việc sử dụng sà lan điện trên
sông Seine giúp giảm hàng chục nghìn lượt xe tải mỗi năm, đồng thời tiết kiệm
đáng kể năng lượng và giảm phát thải. So với đường bộ, vận tải đường thủy tiêu
thụ ít hơn khoảng 4 lần năng lượng và phát thải CO2 thấp hơn đến 5 lần.</p>
<p class="text-justify">Bài học chiến lược quan trọng nhất là các tập đoàn như IKEA
và CEVA Logistics chuyển sang vận tải đường thủy không xuất phát từ yếu tố môi
trường, mà từ hiệu quả kinh tế và vận hành. Vì vậy, logistics đường sông không
nên được định vị trước hết như một giải pháp “xanh”, mà cần chứng minh rõ lợi
ích về chi phí, năng lực vận chuyển và tối ưu chuỗi cung ứng; yếu tố môi trường
nên được xem là giá trị gia tăng đi kèm.</p>
<p class="text-justify">Nghiên cứu về logistics đô thị vùng Paris cho thấy thành phố
đã quy hoạch 13 bến trung chuyển dọc sông Seine, từ cầu Bercy đến Grenelle,
hình thành mạng lưới chia sẻ hàng hóa hiệu quả. Mô hình này có thể tham chiếu để
phát triển khu vực Tân Thuận - Khánh Hội trên sông Sài Gòn.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86346" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/4688991d79e24a9fbd1fb3cf2fb0c080-86346.png" alt="Phát triển hành lang sông Sài Gòn: Cần “cú hích” từ quy hoạch tích hợp - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Vấn đề tĩnh không cầu trên sông Sài Gòn đang được quan tâm. Theo ông, cần
tính toán ra sao khi xây dựng cầu mới để vừa đảm bảo giao thông đường bộ, vừa
không hạn chế vận tải thủy trong dài hạn?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đây là vấn đề kỹ thuật - quy hoạch đặc biệt nhạy cảm, nhưng
thường bị xử lý theo tư duy ngắn hạn. Một cây cầu thiết kế sai tĩnh không có thể
làm gián đoạn lưu thông đường thủy trong nhiều thập kỷ và rất khó khắc phục.</p>
<p class="text-justify">Theo các đánh giá hiện trạng, đoạn trung lưu sông Sài Gòn có
tới 73% bờ đã được kè hóa và tập trung nhiều cầu, làm gia tăng tính không đồng
nhất trong vận hành giao thông thủy. Sự chênh lệch tĩnh không giữa các cầu đã
hình thành các nút thắt cổ chai trên toàn tuyến.</p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, tình trạng lún nền kéo dài 2-5 cm/năm khiến
khoảng cách thực giữa mặt nước và đáy cầu có xu hướng thu hẹp theo thời gian ở
một số vị trí, tạo ra rủi ro địa kỹ thuật dài hạn chưa được tính đầy đủ trong
thiết kế hiện hành.</p>
<p class="text-justify">Bài học thực tiễn cho thấy, trên tuyến đường thủy NW-1 của Ấn
Độ (sông Ganga), nhiều cầu có tĩnh không thấp đã hạn chế nghiêm trọng khả năng
khai thác của tàu hàng cỡ lớn trên toàn tuyến. Trong khi đó, tại Đồng bằng sông
Cửu Long - khu vực đóng góp lớn cho sản xuất nông nghiệp và xuất khẩu - chi phí
logistics vẫn ở mức cao do hạ tầng đường thủy chưa được đầu tư tương xứng.</p>
<p class="text-justify">Ngược lại, các mô hình thành công cho thấy cách tiếp cận dài
hạn. Tại Rotterdam (Hà Lan), cầu Erasmusbrug được thiết kế với đoạn mở lớn, cho
phép tàu trọng tải lớn lưu thông mà không ảnh hưởng giao thông đường bộ. Tại Đức,
Hamburg Port Authority đã nâng cấp luồng sông Elbe, cải thiện tĩnh không để tiếp
nhận tàu container cỡ lớn. Những nơi này có điểm chung là không đánh đổi một
phương thức vận tải để phục vụ phương thức khác.</p>
<p class="text-justify">Từ các kinh nghiệm này, có thể rút ra ba nguyên tắc gồm:
phân loại chức năng từng đoạn sông trước khi thiết kế cầu, trong đó đoạn trung
tâm cần đảm bảo tĩnh không tối thiểu 15-25m cho vận tải dài hạn; luật hóa quy
chuẩn tĩnh không thống nhất toàn hành lang trước khi phê duyệt dự án mới; ưu
tiên hạ tầng ngầm cho giao thông đường bộ tại khu vực trung tâm.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86348" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/2140416970354ea48493795a51373f80-86348.png" alt="Phát triển hành lang sông Sài Gòn: Cần “cú hích” từ quy hoạch tích hợp - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Từ kinh nghiệm quốc tế, theo ông, đâu là bài học quan trọng nhất trong
việc cân bằng giữa phát triển kinh tế, không gian công cộng và bảo tồn hệ sinh
thái sông đô thị?</i></b></p>
<p class="text-justify">Thông điệp cốt lõi rút ra là các dự án tái sinh sông thành
công trên thế giới không đặt kinh tế và sinh thái trong thế đối lập, mà chứng
minh sinh thái chính là nền tảng tạo ra giá trị kinh tế. Theo Chương trình Môi
trường Liên hợp quốc (UNEP), rừng ngập mặn có thể tạo ra giá trị hệ sinh thái từ
33.000-57.000 USD/ha/năm; mỗi USD đầu tư phục hồi mang lại lợi ích gấp nhiều lần
chi phí. Với quy mô gần 72.000 ha, rừng ngập mặn Cần Giờ được đánh giá có tiềm
năng lớn về tín chỉ carbon và giá trị dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Kinh nghiệm quốc tế cho thấy hiệu quả rõ rệt của cách tiếp cận
này. Tại Cheonggyecheon Stream (Seoul, Hàn Quốc), dự án khôi phục dòng suối đã
giúp gia tăng giá trị đất, cải thiện môi trường và kích hoạt dòng vốn đầu tư lớn.
Tại Hà Lan, chương trình Room for the River lựa chọn mở rộng không gian cho
sông thay vì kiểm soát cứng, qua đó giảm rủi ro lũ và nâng cao chất lượng đô thị.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, các mô hình này cũng đi kèm cảnh báo. Dự án làm sạch
Singapore River cho thấy chi phí có thể rất lớn và đòi hỏi xử lý môi trường đồng
bộ trước khi phát triển không gian ven sông. Trong khi đó, tình trạng lún đất tại
Jakarta (Indonesia) là hệ quả của khai thác nước ngầm và bê tông hóa kéo dài,
buộc thành phố phải tính đến phương án di dời.</p>
<p class="text-justify">Từ các bài học này, điểm chung nổi bật là thành công không đến
từ những quyết định ngắn hạn, mà từ sự kiên định với tầm nhìn dài hạn, nhất
quán qua nhiều giai đoạn phát triển. Đây cũng là yêu cầu then chốt đối với TP.Hồ
Chí Minh trong quá trình khai thác và tái sinh không gian sông Sài Gòn.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86349" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/543a6db9549e48d19f5985545753d29e-86349.png" alt="Phát triển hành lang sông Sài Gòn: Cần “cú hích” từ quy hoạch tích hợp - Ảnh 7">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Đón cơ hội từ thị trường carbon</title><description>Việt Nam đang bước v#224;o giai đoạn chuyển đổi quan trọng từ x#226;y dựng khung ph#225;p l#253; sang triển khai thực tế thị trường carbon. Ph#225;t triển c#225;c dự #225;n tạo t#237;n chỉ carbon, tham gia thị trường carbon đang mở ra nhiều cơ hội cho c#225;c doanh nghiệp Việt. </description><pubDate>Thu, 30 Apr 2026 03:47:54 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/don-co-hoi-tu-thi-truong-carbon.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/don-co-hoi-tu-thi-truong-carbon.htm</guid><atom:link href="/don-co-hoi-tu-thi-truong-carbon.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/7727834dbbb84b2d842c943796a37369-86407.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Việt Nam đang bước vào giai đoạn chuyển đổi quan trọng từ xây dựng khung pháp lý sang triển khai thực tế thị trường carbon. Phát triển các dự án tạo tín chỉ carbon, tham gia thị trường carbon đang mở ra nhiều cơ hội cho các doanh nghiệp Việt. </h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="86393">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/7c40bd207f38491c807c4e7f269e31cc-86393.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86394">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/42ad11a30f30407d8f5f66af7b13b055-86394.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86395" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/e32e54277b23437db9da7edf80da98ad-86395.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Hiện nay, việc tuân thủ các tiêu chí yêu cầu giảm phát thải
không còn mang tính khuyến khích, mà đã trở thành một điều kiện tiên quyết với
các doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Để có thể tận dụng các cơ hội, vượt qua thách thức khi đáp ứng
các yêu cầu giảm phát thải và tham gia sàn giao dịch carbon, các doanh nghiệp cần
cách tiếp cận có tính chiến lược dài hạn. </p>
<p class="text-justify">Theo đó, doanh nghiệp cần coi giảm phát thải không chỉ là
yêu cầu tuân thủ hành chính mà còn quản lý hàng hóa tín chỉ và hạn ngạch có hiệu
quả. Đồng thời doanh nghiệp cần nhìn nhận thị trường carbon, sàn giao dịch
carbon như một phương thức hỗ trợ giảm phát thải chứ không chỉ nhìn dưới góc độ
tìm kiếm lợi nhuận.</p>
<p class="text-justify">Trên cơ sở cách tiếp cận đó, tôi cho rằng các doanh nghiệp cần
lưu ý 3 vấn đề.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> các
doanh nghiệp cần chủ động xây dựng năng lực về thị trường carbon, hiểu biết về
các sản phẩm carbon, sự khác biệt giữa hạn ngạch phát thải và tín chỉ carbon
cũng như các quyền và quy định pháp lý liên quan, có sự chủ động quản lý.</p>
<p class="text-justify">Đồng thời, doanh nghiệp cần xây dựng nguồn nhân lực nội bộ
chuyên về carbon như có các cán bộ am hiểu về carbon, hạch toán carbon… Tín chỉ
carbon được giao dịch trên sàn nên các doanh nghiệp cần phải quản lý, tối ưu
hóa lợi ích kinh tế. Điều này không chỉ áp dụng với các doanh nghiệp nằm trong
diện phân bổ hạn ngạch hay các doanh nghiệp đang có dự án tạo tín chỉ carbon mà
cả các doanh nghiệp đang có mức phát thải cao cũng cần phải quan tâm.</p>
<p class="text-justify">Thực tế hiện nay mới chỉ có 110 doanh nghiệp thuộc diện áp dụng
hạn ngạch nhưng trong thời gian tới, số lượng chắc chắn sẽ thay đổi. Vì vậy,
các doanh nghiệp cần phải chủ động trong lĩnh vực này.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> các doanh
nghiệp cũng cần nắm bắt các quy định về thuế, tài chính có liên quan. Ví dụ như
luật thuế thu nhập doanh nghiệp có quy định thu nhập chuyển nhượng kết quả giảm
phát thải, chuyển nhượng tín chỉ carbon lần đầu sau khi phát hành của doanh
nghiệp được cấp tín chỉ carbon được miễn thuế…</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> doanh nghiệp
cần xây dựng kế hoạch dài hạn để đảm bảo chi phí tuân thủ đối với các yêu cầu
giảm phát thải là tốt nhất. Bởi dư địa giảm phát thải trong sản xuất của một số
ngành có giới hạn, do đó, doanh nghiệp có thể lựa chọn đầu tư công nghệ hiện đại,
tối ưu để giảm phát thải. </p>
<p class="text-justify">Trong trường hợp không thể tìm được công nghệ giảm phát thải
hoặc chi phí đầu tư công nghệ quá lớn, doanh nghiệp có thể nghiên cứu áp dụng
các biện pháp khác như mua hạn ngạch, bù trừ tín chỉ. Sàn giao dịch carbon
trong nước sẽ là công cụ để hỗ trợ doanh nghiệp đạt được mục tiêu này”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86396">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/ac26a7d34f6c427cbcbf5fac3bb6cabb-86396.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86397" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/b5d10744b732480681709d360aa18c78-86397.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Việc thiết lập một hệ thống tín chỉ carbon vận hành hiệu quả
không chỉ giúp Việt Nam huy động nguồn lực tài chính cho mục tiêu Net Zero vào
năm 2050, mà còn là đòn bẩy nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Quá trình này mở ra cơ hội đổi mới sáng tạo, củng cố vị thế
thị trường và thu hút đầu tư quốc tế. Song trong bối cảnh gần 1/3 lượng phát thải
toàn cầu đã được bao phủ bởi các cơ chế định giá carbon, thị trường đang đòi hỏi
khắt khe hơn về tính minh bạch và chất lượng dự án. Do đó, việc hỗ trợ doanh nghiệp
hiểu và thích ứng với các tiêu chuẩn kỹ thuật là yếu tố then chốt khi Việt Nam
chuẩn bị vận hành thí điểm thị trường carbon trong thời gian tới.</p>
<p class="text-justify">Trong hành trình này, Australia khẳng định cam kết đồng hành
cùng Việt Nam thông qua các hỗ trợ về tài chính, kỹ thuật và chia sẻ kinh nghiệm
vận hành thực tiễn. Với lịch sử hỗ trợ hơn 3 tỷ AUD cho sự phát triển của Việt
Nam trong 50 năm qua, Australia hiện xem hợp tác khí hậu và năng lượng là một
trụ cột chiến lược. </p>
<p class="text-justify">Kể từ khi hai nước cùng cam kết đạt phát thải ròng bằng 0
vào năm 2050, hợp tác trong các lĩnh vực khí hậu, môi trường và năng lượng đã
trở thành một trụ cột quan trọng trong quan hệ song phương.</p>
<p class="text-justify">Để hiện thực hóa các cam kết chiến lược, Australia đã và
đang hợp tác chặt chẽ với Việt Nam thông qua nhiều nền tảng kỹ thuật và tài
chính. Thông qua chương trình Nền tảng đối tác doanh nghiệp (BPP), Australia đã
đầu tư gần 10 triệu AUD để thử nghiệm các mô hình sản xuất lúa phát thải thấp tại
Đồng bằng sông Cửu Long và phát triển thị trường carbon tự nguyện. Chương trình
Aus4Innovation (33,5 triệu AUD) đang thúc đẩy hệ sinh thái nông nghiệp thông
minh thích ứng với khí hậu, có khả năng tạo ra tín chỉ carbon chất lượng cao. </p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, thông qua Quan hệ Đối tác tài chính khí hậu
(ACFP), Australia đã hỗ trợ tài chính ưu đãi cho doanh nghiệp sản xuất xe điện
trong nước triển khai đội xe buýt điện đầu tiên tại Việt Nam, đồng thời đóng
góp vào quỹ cho vay ủy thác tại VPBank để phát triển hạ tầng bền vững.</p>
<p class="text-justify">Việc hợp tác với các tổ chức quốc tế như UNOPS cũng giúp
cung cấp các hỗ trợ tổng thể từ cấp độ chính sách, pháp lý đến nâng cao năng lực
triển khai thực tế cho Việt Nam”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86398">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/e74babcd75ea41b38a4d1b2ab78b523d-86398.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86399" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/d2e821cc2d004748bf069214dc243867-86399.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Việt Nam hiện có 110 doanh nghiệp được lựa chọn thí điểm
phân bổ hạn ngạch (trong số 2.166 cơ sở thuộc danh mục phải thực hiện kiểm kê
khí nhà kính) để tham gia thị trường trong giai đoạn vận hành thí điểm. Trong số
đó có 51/61 doanh nghiệp đến từ ngành xi măng.</p>
<p class="text-justify">Chủ thể tham gia thị trường carbon trong giai đoạn thí điểm
đa phần là các doanh nghiệp có quyền mua bán, tuân thủ phân bổ hạn ngạch. </p>
<p class="text-justify">Từ góc nhìn doanh nghiệp, tôi nhận thấy nhu cầu tham gia thị
trường là rất lớn. Có thể nói, cứ 10 doanh nghiệp thì có tới 9 đơn vị đang chuyển
đổi xanh có nhu cầu tham gia. Tuy nhiên, các doanh nghiệp cần hiểu rõ vai trò,
vị trí của mình như thế nào trong thị trường này.</p>
<p class="text-justify">Trước khi có thị trường carbon, các doanh nghiệp đã tiên
phong chuyển đổi xanh ở Việt Nam đều xuất phát từ yêu cầu của thị trường. Hầu hết
các doanh nghiệp thành viên Hiệp hội Doanh nghiệp xanh TP. Hồ Chí Minh đều có sản
phẩm, hàng hóa xuất khẩu ra thị trường quốc tế, trong đó có những đơn vị đã xuất
khẩu sang 165 nước trên thế giới.</p>
<p class="text-justify">Thực tế, vấn đề lớn nhất với các doanh nghiệp không nằm ở
công nghệ hay nguồn tài chính mà là nhận thức về cơ hội cũng như các rủi ro
liên quan (cả về tài chính và pháp lý). Các quy định về quyền sở hữu tín chỉ
carbon vẫn chưa thực sự rõ ràng. Đây là một trong những lý do khiến doanh nghiệp
còn băn khoăn, e ngại đầu tư để tạo ra hàng hóa này. Bởi khi bỏ chi phí để tạo
ra tín chỉ, doanh nghiệp cần chắc chắn về quyền sở hữu hàng hóa cũng như khả
năng sinh lời. </p>
<p class="text-justify">Hiện nay, khi đã có các văn bản quy định rõ ràng hơn, thời
gian tới các doanh nghiệp sẽ bắt đầu tham gia. Tuy nhiên, để tạo ra một hàng
hóa là tín chỉ carbon, doanh nghiệp cần từ 1,5 đến 2 năm, với quy trình kỹ thuật
phức tạp, hệ thống MRV và các thủ tục pháp lý… đòi hỏi cần nguồn lực lớn.</p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, phần lớn doanh nghiệp vẫn chưa có bộ phận
chuyên trách về quản lý carbon. Vì vậy, dù ý chí tham gia của doanh nghiệp đã
có, việc triển khai trên thực tế vẫn còn hạn chế. </p>
<p class="text-justify">Có thể khẳng định, các doanh nghiệp Việt Nam hoàn toàn sẵn
sàng tham gia thị trường carbon nếu có cơ hội. Các doanh nghiệp nhận thấy cơ hội
này ở Việt Nam nhiều hơn so với các nước trên thế giới”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86400">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/6375a3534ee648f98159499de1c69d6a-86400.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86401" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/5e5263837aac4828bf37c6423e3a5553-86401.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Trong hành trình hướng tới mục tiêu Net Zero, tín chỉ
carbon removal (hấp thụ/loại bỏ carbon) không chỉ là một công cụ hỗ trợ mà đã
trở thành yếu tố cốt lõi mang tính quyết định.</p>
<p class="text-justify">Khác với các loại tín chỉ “tránh phát thải” (avoidance) vốn
chỉ nhằm giảm bớt lượng khí thải, tín chỉ removal trực tiếp hấp thụ/loại bỏ lượng
CO₂
đã tồn tại trong khí quyển và lưu trữ chúng lâu dài. Các phương thức lưu trữ phổ
biến thông qua rừng, đất, đại dương hoặc các vật liệu như than sinh học (biochar).
Trong thực tế luôn có những ngành sản xuất “khó giảm” phát thải tuyệt đối, do
đó, chỉ có loại bỏ carbon mới giúp cân bằng lại phần dư thừa này để đạt Net
Zero.</p>
<p class="text-justify">Để công cụ này thực sự hiệu quả và được quốc tế công nhận,
Nhà nước cần hoàn thiện khung pháp lý dựa trên các trụ cột, bao gồm xác lập vị
trí pháp lý, đưa tín chỉ removal vào chiến lược quốc gia và hệ thống kiểm kê
khí nhà kính gắn với Đóng góp quốc gia NDC. </p>
<p class="text-justify">Chính sách cần phân định rõ ràng giữa tín chỉ giảm phát thải
và tín chỉ loại bỏ carbon, đồng thời quy định các tiêu chí chất lượng cốt lõi
như: tính bổ sung (không trùng lặp), tính lâu dài (lưu trữ bền vững) và không
rò rỉ phát thải sang nơi khác. Nếu không có các tiêu chí này, tín chỉ sẽ không
được thị trường quốc tế công nhận.</p>
<p class="text-justify">Một trụ cột quan trọng khác là hệ thống MRV (đo lường - báo
cáo - thẩm định) chuẩn hóa. Đây chính là “hạ tầng niềm tin” của thị trường
carbon. Nhà nước cần ban hành hướng dẫn chuẩn về MRV, xây dựng cơ sở dữ liệu hệ
số phát thải, thiết lập đường cơ sở phát thải và xác định thực hành phổ biến
cho từng ngành. Việc chuẩn hóa giúp đảm bảo tín chỉ được tạo ra có thể so sánh,
kiểm chứng và giao dịch trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, cần làm rõ cơ chế sở
hữu tín chỉ và phân bổ lợi ích, nhất là trong các dự án liên quan đến nông nghiệp,
rừng và cộng đồng, nhằm tạo động lực dài hạn và tránh tranh chấp.</p>
<p class="text-justify">Ngoài ra, sự thành công của thị trường carbon phụ thuộc rất
lớn vào khả năng thực thi của doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống
dữ liệu chuẩn theo các chứng chỉ quốc tế (như ISO 14064, GHG Protocol). Nếu
không có dữ liệu chuẩn, doanh nghiệp không thể chứng minh được lượng carbon đã
hấp thụ.</p>
<p class="text-justify">Tín chỉ carbon không phải nguồn thu cố định mà biến động
theo giá thị trường và đi kèm nhiều chi phí vận hành (MRV, thẩm định), do đó, cần
có mô hình tài chính chuyên nghiệp (NPV, IRR) để đánh giá hiệu quả đầu tư. </p>
<p class="text-justify">Điều quan trọng là doanh nghiệp phải nâng cao năng lực làm
việc với các đơn vị thẩm định và các sàn giao dịch tín chỉ toàn cầu, đảm bảo
tính minh bạch tuyệt đối.</p>
<p class="text-justify">Theo tôi, tín chỉ carbon removal là chìa khóa để hoàn thiện
bài toán Net Zero, nơi việc giảm phát thải không còn đủ mà cần phải loại bỏ
carbon khỏi khí quyển. Để khai thác hiệu quả công cụ này, cần một hệ thống
chính sách đủ mạnh và một cộng đồng doanh nghiệp đủ năng lực. Khi đó, carbon
không còn là chi phí phải giảm mà sẽ trở thành một loại tài sản có thể đo lường,
chứng minh và thương mại hóa, mở ra không gian cạnh tranh mới cho doanh nghiệp
Việt Nam trên thị trường toàn cầu”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86402">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/77bbfaf9e5494db7bc0726cf07aea985-86402.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 10">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86403" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/7f4335da6987428ab6f7e88441e0f55a-86403.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 11">
</figure>
<p class="text-justify">“Theo xu hướng, hầu hết các quốc gia cũng như thương hiệu lớn
đều đặt ra mục tiêu Net Zero. Trong lộ trình đến Net Zero, họ sẽ thực hiện rất
nhiều hoạt động liên quan xuyên suốt chuỗi cung ứng. Điển hình như thị trường
EU có Cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM) đang đặt ra yêu cầu nghiêm ngặt
về phát thải carbon với hàng hóa, buộc doanh nghiệp phải mua chứng chỉ carbon
hoặc chuyển đổi sản xuất xanh. </p>
<p class="text-justify">Việc thực hiện này sẽ bắt đầu dựa trên số liệu hoạt động của
năm 2026. Do đó, các doanh nghiệp phải chuẩn bị rất rõ ràng để đến hết năm 2026
có thể minh bạch được lượng phát thải của các sản phẩm khi đi vào thị trường
châu Âu. </p>
<p class="text-justify">Là một đơn vị xác minh, xác nhận kết quả kiểm kê phát thải
khí nhà kính cũng như các chương trình tín dụng carbon, chúng tôi nhận thấy rất
nhiều đơn vị tại Việt Nam đang muốn thực hiện, ví dụ như kiểm kê phát thải sản
phẩm để đưa vào chuỗi cung ứng quốc tế. </p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, thực tế họ gặp những hạn chế về thông tin hệ số
phát thải và dữ liệu hoạt động trong giai đoạn lịch sử trước đó chưa được ghi
chép đầy đủ, rõ ràng. Đây là khó khăn lớn nhất khi muốn làm kiểm kê hay trung
hòa carbon.</p>
<p class="text-justify">Ví dụ trong nông nghiệp, toàn bộ quá trình từ vườn ươm, làm
đất, canh tác đến phân bón...đều phải được ghi nhận, có minh chứng rõ ràng về
hóa đơn, chứng từ cũng như hệ số phát thải từ các nguồn được quốc tế công nhận.  Trong các ngành sản xuất như xi măng, sắt
thép cũng vậy, nguồn nguyên liệu đầu vào của họ thường chưa có đủ cơ sở dữ liệu.</p>
<p class="text-justify">Tôi cho rằng với vị trí ở đầu nguồn của chuỗi cung ứng, là
nhà cung cấp, nên doanh nghiệp Việt Nam khi xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc
tế cần phải có dữ liệu về phát thải của sản phẩm, quá trình sản xuất và nhà máy
trước khi đưa hàng vào chuỗi cung ứng. Trong trường hợp dữ liệu chưa đầy đủ
nhưng doanh nghiệp đã có định hướng rõ ràng thì có thể lựa chọn những “năm cơ sở”
là những năm có thông tin rõ ràng nhất, kết hợp với các nguồn hệ số phát thải
được công nhận quốc tế để thực hiện.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi đã hỗ trợ một số đơn vị kiểm kê phát thải sản phẩm,
trung hòa carbon, kiểm kê phát thải nhà máy,… tất cả đều phải truy xuất và có dữ
liệu từ một quá trình dài. Việc này hoàn toàn khả thi nhưng cần có một kế hoạch
rõ ràng về việc thu thập thông tin gì để phục vụ mục tiêu đó.</p>
<p class="text-justify">Việc giao dịch tín chỉ carbon để bù đắp lượng phát thải cũng
rất quan trọng. Những doanh nghiệp Việt Nam có nguồn lực tạo ra tín chỉ carbon
và giao dịch quốc tế nên tập trung phát triển các dự án này để đem lại lợi ích
kinh tế”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86404">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/c8f88d6c21e14b9d9c0f1094a6e26612-86404.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 12">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86405" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/29f56bb8cef84e679a62e4aefefb57e1-86405.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 13">
</figure>
<p class="text-justify">“Với vai trò là doanh nghiệp trong ngành công nghiệp năng lượng
- lĩnh vực có phát thải CO₂ lớn, chúng tôi xác định việc tham
gia vào các giải pháp giảm phát thải không chỉ là trách nhiệm mà là xu hướng tất
yếu.</p>
<p class="text-justify">Trong khoảng 5 năm gần đây, chúng tôi cùng các đối tác Nhật
Bản đã chủ động nghiên cứu các phương án thu hồi và chôn lấp CO₂.
Trong đó trọng tâm nghiên cứu khu vực tiềm năng/tận dụng các mỏ dầu khí đã cạn
kiệt cũng như hệ thống công trình ngoài khơi hiện hữu để lưu trữ CO₂
dưới lòng đất.</p>
<p class="text-justify">Đây là lợi thế rất lớn của ngành công nghiệp năng lượng Việt
Nam so với nhiều ngành khác, bởi chúng ta có sẵn hạ tầng dầu khí và hiểu biết địa
chất tích lũy qua nhiều năm. Nếu tận dụng tốt lợi thế này, chi phí đầu tư có thể
giảm đáng kể so với việc xây dựng mới hoàn toàn.</p>
<p class="text-justify">Hiện nay, chúng tôi đang trong giai đoạn hoàn thiện các
phương án nghiên cứu xác định vị trí tiềm năng thử nghiệm lưu giữ CO₂.
Dự kiến đến cuối năm 2026 có thể hoàn thành thiết kế để tiến tới lập kế hoạch
triển khai thử nghiệm. Trong 5-10 năm tới, chúng tôi đặt mục tiêu có thể thực
hiện chôn lấp CO₂ ở quy mô thử nghiệm đến thương mại thực tế. </p>
<p class="text-justify">Qua tham khảo tài liệu từ Mỹ, Nhật Bản, Australia và các nước
Đông Nam Á tiên phong như Indonesia, Malaysia, có thể thấy họ đã từng bước tiến
hành chôn lấp CO₂ và tạo ra lợi nhuận. Bên cạnh đó, Chính phủ các nước
này cũng có những chính sách thu hút nhà đầu tư, ví dụ như quy định mức giá cụ
thể cho chôn lấp mỗi tấn CO₂. Điều này giúp thu hút nguồn vốn
nước ngoài và mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi kỳ vọng ngành dầu khí trong tương lai có thể tận dụng
các mỏ cạn kiệt và hệ thống giàn khoan ngoài biển để thực hiện chôn lấp CO₂
tương tự như các nước tiên tiến. Điều này không chỉ giúp giảm phát thải cho
ngành công nghiệp năng lượng mà còn mang lại lợi nhuận cho doanh nghiệp. Do đó,
một chính sách thu hút đầu tư rõ ràng từ Chính phủ là hết sức cần thiết. Chúng
tôi đang trình các cơ quan Chính phủ xem xét về cơ chế chính sách để đảm bảo
mang lại lợi nhuận từ việc chôn lấp CO₂ này. </p>
<p class="text-justify">Về định lượng, dự án của chúng tôi đang phối hợp với đối tác
Nhật Bản với kỳ vọng sẽ triển khai chôn lấp khoảng 4 triệu tấn CO₂/năm
trong vòng 5 năm tới. Để thực hiện quy mô này, cần một hệ thống thử nghiệm với
khoảng 5 giếng khoan.</p>
<p class="text-justify">Tại Mỹ, theo chính sách tín dụng thuế 45Q, chi phí chôn lấp
dao động từ 80 USD đến hơn 100 USD/tấn. Khi doanh nghiệp chôn lấp được 1 tấn CO₂,
họ sẽ nhận được mức lợi nhuận tương đương. Điều này giống như khai thác dầu
khí: nếu khai thác một thùng dầu được 100 USD thì khi chôn ngược lại một tấn CO₂
cũng có thể thu về giá trị tương ứng. Đây là hướng đi tiềm năng và hiệu quả hơn
nhiều so với các biện pháp như trồng rừng.</p>
<p class="text-justify">Khi thị trường carbon vận hành, chúng tôi kỳ vọng sẽ thu hút
được nhiều nhà đầu tư; thậm chí có thể hướng tới chôn lấp CO₂  xuyên biên giới”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86406">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/28/672614378cb84d2ea9776c600da5a590-86406.png" alt="Đón cơ hội từ thị trường carbon - Ảnh 14">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Khát vọng dân tộc: Động lực giúp Việt Nam bứt phá
trong cuộc đua công nghệ</title><description>Kh#225;t vọng d#226;n tộc từng nhiều lần đưa Việt Nam vượt qua th#225;ch thức. Trong kỷ nguy#234;n c#244;ng nghệ, tinh thần vươn l#234;n v#224; kh#225;t khao s#225;nh vai c#249;ng thế giới tiếp tục trở th#224;nh động lực quan trọng cho tăng trưởng v#224; đổi mới.</description><pubDate>Thu, 30 Apr 2026 02:19:20 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/khat-vong-dan-toc-dong-luc-giup-viet-nam-but-pha-trong-cuoc-dua-cong-nghe.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/khat-vong-dan-toc-dong-luc-giup-viet-nam-but-pha-trong-cuoc-dua-cong-nghe.htm</guid><atom:link href="/khat-vong-dan-toc-dong-luc-giup-viet-nam-but-pha-trong-cuoc-dua-cong-nghe.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/8408af1b29174ce48b23f39f4c552106-86077.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Khát vọng dân tộc từng nhiều lần đưa Việt Nam vượt qua thách thức. Trong kỷ nguyên công nghệ, tinh thần vươn lên và khát khao sánh vai cùng thế giới tiếp tục trở thành động lực quan trọng cho tăng trưởng và đổi mới.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="86070" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/7fe51d4da64045c094011dddd08d5410-86070.png" alt="Khát vọng dân tộc: Động lực giúp Việt Nam bứt phá
trong cuộc đua công nghệ - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86071" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/834e2ef03b734a8ea41ae68eeb64a8e8-86071.png" alt="Khát vọng dân tộc: Động lực giúp Việt Nam bứt phá
trong cuộc đua công nghệ - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Thưa Giáo sư, Việt Nam đang đặt mục tiêu phát triển công nghệ chiến lược
nhằm rút ngắn khoảng cách với các nền kinh tế phát triển. Theo ông, Việt Nam hiện
có những điều kiện nào để hiện thực hóa mục tiêu này, đặc biệt trong các lĩnh vực
công nghệ cao?</i></b></p>
<p class="text-justify">Trong bối cảnh hiện nay, “công nghệ chiến lược” mang hàm ý rất
rõ: đó là những công nghệ cốt lõi, có vai trò quyết định đối với năng lực phát
triển và vị thế của một quốc gia. Đây cũng là những lĩnh vực có khả năng lan tỏa
mạnh, thúc đẩy nhiều ngành kinh tế và góp phần giải quyết các bài toán phát triển
then chốt.</p>
<p class="text-justify">Thời gian qua, các chủ trương, chính sách như Nghị quyết
57-NQ/TW cùng hệ thống luật, nghị định liên quan đã đặt nền tảng quan trọng cho
phát triển khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, thách thức lớn
nhất hiện nay là làm thế nào để chuyển hóa các định hướng đó thành hành động cụ
thể.</p>
<p class="text-justify">Nói cách khác, vấn đề cốt lõi là tìm ra con đường và cơ chế
phù hợp để đi từ điểm xuất phát hiện tại đến mục tiêu phát triển các công nghệ
chiến lược trong tương lai, qua đó rút ngắn khoảng cách với các nền kinh tế
phát triển.</p>
<p class="text-justify">Ở đây, cần nhìn rõ khái niệm “bắt kịp”. Về bản chất, việc bắt
kịp chỉ có thể xảy ra khi chúng ta tăng tốc nhanh hơn. Trong khi đó, các quốc
gia đi trước vẫn không ngừng tiến lên, chứ không đứng yên chờ đợi. Vì vậy, để
thu hẹp khoảng cách, Việt Nam cần nhìn thẳng vào năng lực thực chất của mình và
lựa chọn hướng đi phù hợp.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86072" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/4184325a9ba54863a4ad57400e57e829-86072.png" alt="Khát vọng dân tộc: Động lực giúp Việt Nam bứt phá
trong cuộc đua công nghệ - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Vậy đâu là nền tảng quan trọng giúp Việt Nam tham gia hiệu quả vào cuộc
đua công nghệ, đặc biệt trong các lĩnh vực mới như trí tuệ nhân tạo và bán dẫn?</i></b></p>
<p class="text-justify">Theo tôi, Việt Nam đang có một số nền tảng thuận lợi để tham
gia vào quá trình phát triển công nghệ.</p>
<p class="text-justify"><i>Một là,</i> khung chiến
lược và pháp lý. Đây là yếu tố rất quan trọng. Lãnh đạo Đảng và Nhà nước đã
nhìn nhận rõ vai trò của khoa học - công nghệ, đồng thời xác định tầm nhìn cả
ngắn hạn và dài hạn. Việc ban hành các nghị quyết, chính sách và hoàn thiện
hành lang pháp lý đã tạo nền tảng cần thiết để thúc đẩy đổi mới sáng tạo và thu
hút đầu tư công nghệ.</p>
<p class="text-justify"><i>Hai là,</i> niềm tin của
các doanh nghiệp quốc tế. Nhiều tập đoàn nước ngoài đánh giá cao sự ổn định về
chính trị, thể chế và môi trường đầu tư của Việt Nam. Khi các doanh nghiệp lớn
hiện diện và hoạt động hiệu quả sẽ hình thành hiệu ứng lan tỏa, tiếp tục thu
hút thêm nhà đầu tư tham gia vào hệ sinh thái.</p>
<p class="text-justify"><i>Ba là,</i> yếu tố con
người. Người Việt Nam có truyền thống hiếu học, chăm chỉ và khả năng tiếp thu
nhanh - đây là lợi thế quan trọng trong các lĩnh vực công nghệ mới, nơi năng lực
học hỏi và thích nghi đóng vai trò then chốt.</p>
<p class="text-justify"><i>Bốn là,</i> khát vọng
vươn lên của dân tộc. Trong lịch sử, khát vọng này nhiều lần trở thành động lực
phát triển. Tinh thần muốn sánh vai với các quốc gia tiên tiến chính là nguồn
năng lượng mạnh mẽ thúc đẩy đổi mới và sáng tạo.</p>
<p class="text-justify">Có thể nói, đây là những nền tảng quan trọng để Việt Nam
tham gia sâu hơn vào các lĩnh vực công nghệ. Tuy nhiên, đi cùng cơ hội cũng là
áp lực. Trong bối cảnh các quốc gia đều đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển
các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo hay bán dẫn, Việt Nam phần nào đang đối
mặt với tâm lý “FOMO” - lo ngại bị bỏ lại phía sau. Điều này khiến các khái niệm
như AI hay bán dẫn được nhắc đến nhiều, nhưng không phải lúc nào cũng đi kèm với
sự hiểu biết đầy đủ và năng lực triển khai thực chất.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86073" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/278e7ad060814096869e3e6eb6c27a1e-86073.png" alt="Khát vọng dân tộc: Động lực giúp Việt Nam bứt phá
trong cuộc đua công nghệ - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Ông có thể phân tích rõ hơn về tâm lý “FOMO” này? Việt Nam nên bắt đầu
từ đâu để tránh chạy theo xu hướng mà vẫn phát triển hiệu quả?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đánh giá về con đường phát triển công nghệ, có thể nói Việt
Nam không đi “lệch hướng”, bởi khả năng theo dõi và cập nhật xu hướng thế giới
là khá tốt. Tuy nhiên, rào cản lớn nhất hiện nay lại nằm ở tâm lý “FOMO” - lo
ngại bị bỏ lại phía sau.</p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, Việt Nam đang hội tụ nhiều điều kiện thuận lợi:
chính sách và pháp lý ngày càng hoàn thiện, sự quan tâm của nhà đầu tư quốc tế,
nguồn nhân lực chất lượng và khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Vấn đề là chúng ta cần
tiến từng bước vững chắc, biết lựa chọn mục tiêu và điểm khởi đầu phù hợp với
thực lực.</p>
<p class="text-justify">Thay vì theo đuổi những mục tiêu quá lớn theo kiểu “lấy trứng
chọi đá”, Việt Nam nên ưu tiên những việc có tính khả thi cao. Việc chọn đúng
điểm bắt đầu không chỉ giúp tiết kiệm nguồn lực mà còn tạo niềm tin - cả với
nhà đầu tư lẫn xã hội - rằng chúng ta thực sự làm được, từ đó tránh tâm lý nản
chí.</p>
<p class="text-justify">Cốt lõi ở đây là phải đánh giá đúng năng lực của mình. Khi định
vị được mình đang ở đâu, chúng ta mới có thể xây dựng lộ trình phù hợp và từng
bước tiến tới các mục tiêu cao hơn. Tuy nhiên, “việc dễ” được lựa chọn cũng phải
nằm trong chiến lược phát triển tổng thể, chứ không phải làm những việc rời rạc,
ngắn hạn.</p>
<p class="text-justify">Về dài hạn, mục tiêu không thể dừng lại ở gia công hay làm
thuê. Theo định hướng của Luật Công nghệ cao và các chiến lược phát triển công
nghệ lõi, Việt Nam cần từng bước tiến tới tự chủ công nghệ. Quá trình này có thể
bắt đầu từ việc vận hành công nghệ do đối tác chuyển giao, sau đó tiến tới sửa
chữa, nâng cấp và cuối cùng là cải tiến để làm chủ.</p>
<p class="text-justify">Trong bối cảnh công nghệ thay đổi rất nhanh, việc làm chủ
công nghệ mang lại ba lợi ích quan trọng: đáp ứng nhu cầu trong nước, nâng cao
uy tín để thu hút hợp tác quốc tế và giảm phụ thuộc vào nhập khẩu, qua đó tiết
kiệm nguồn lực cho nền kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Để hiện thực hóa mục tiêu này, vai trò của Chính phủ và cộng
đồng doanh nghiệp là then chốt. Việt Nam hiện mới có một số tập đoàn công nghệ
lớn, nhưng để tạo đột phá, cần phát triển một hệ sinh thái rộng hơn với hàng chục,
thậm chí hàng trăm doanh nghiệp công nghệ.</p>
<p class="text-justify">Đã qua rồi giai đoạn tự hào với “công nghệ tua-vít”. Trong
giai đoạn tới, trọng tâm phải là những lĩnh vực cốt lõi như dữ liệu lớn (Big
Data) và trí tuệ nhân tạo (AI) - những nền tảng quyết định năng lực cạnh tranh
của quốc gia.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86074" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/c8f6d167904d4671b2debad00eae4f18-86074.png" alt="Khát vọng dân tộc: Động lực giúp Việt Nam bứt phá
trong cuộc đua công nghệ - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Vậy, làm thế nào để Việt Nam có thể phát triển từ vài doanh nghiệp công
nghệ lớn hiện nay lên hàng chục, rồi hàng trăm doanh nghiệp trong thời gian tới?</i></b></p>
<p class="text-justify">Việt Nam cần thay đổi tư duy theo hướng hỗ trợ các doanh
nghiệp mới, đặc biệt là những startup có tầm nhìn. Chính phủ cần chấp nhận rủi
ro trong đầu tư: có thể có nhiều dự án thất bại, nhưng chỉ cần 2-3 dự án thành
công cũng đã là xứng đáng. Ngay cả khi Nhà nước tài trợ cho một cá nhân đi học
và sau đó người đó không làm việc trong khu vực công mà chuyển sang doanh nghiệp
tư nhân, thì đó vẫn là một đóng góp cho xã hội.</p>
<p class="text-justify">Quan trọng là không chỉ dừng ở định hướng, mà phải hành động
cụ thể thông qua việc hướng dẫn, hỗ trợ chiến lược và cấp vốn cho các ý tưởng đột
phá. Nếu Chính phủ thành lập các quỹ đầu tư quy mô lớn với cơ chế giải ngân và
ràng buộc trách nhiệm rõ ràng sẽ tạo ra làn sóng doanh nghiệp và nhà khoa học
tham gia nghiên cứu, phát triển sản phẩm.</p>
<p class="text-justify">Trong bài toán phát triển công nghệ, để tạo động lực cho toàn
xã hội, Nhà nước không nên chỉ tập trung nguồn lực vào một vài tập đoàn lớn.
Thay vào đó, cần mở rộng hỗ trợ tới doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như các cá
nhân có năng lực thực sự. Khi xuất hiện những câu chuyện thành công từ các
doanh nghiệp nhỏ được Nhà nước hậu thuẫn, hiệu ứng lan tỏa sẽ rất mạnh mẽ. Khi
đó, người dân sẽ có niềm tin rằng “người khác làm được, mình cũng có thể làm được”
- đó chính là cách tạo ra động lực quốc gia.</p>
<p class="text-justify">Hiện nay, đội ngũ nhà khoa học Việt Nam có nền tảng tốt
nhưng vẫn còn nặng về lý thuyết. Để thay đổi, cần tạo điều kiện để họ tham gia
các diễn đàn quốc tế, đồng thời đưa vào môi trường sản xuất thực tế. Các nhà
nghiên cứu cần được “nhúng” vào nhà máy, trực tiếp làm việc với máy móc để hiểu
và phát triển công nghệ phù hợp với thực tiễn.</p>
<p class="text-justify">Cần thấy rằng ngành công nghiệp bán dẫn có mức độ phức tạp rất
cao, khác biệt so với nhiều ngành khác. Đây không phải là lĩnh vực có thể phát
triển chỉ bằng cách nhập máy móc về lắp ráp, mà đòi hỏi năng lực vận hành, tổ
chức sản xuất ở trình độ cao và kinh nghiệm tích lũy lâu dài. Điều này cần một
hệ sinh thái đồng bộ, trong đó kỹ sư, công nhân kỹ thuật và các nhà khoa học phối
hợp chặt chẽ với nhau.</p>
<p class="text-justify">Thành công của TSMC là một minh chứng rõ nét. Nhà sáng lập
Morris Chang đã có thời gian dài làm việc trong ngành công nghiệp chế tạo tại Mỹ,
tích lũy kinh nghiệm về quản lý sản xuất, công nghệ bán dẫn và hợp tác quốc tế.
Sau hơn 25 năm làm việc tại Texas Instruments, ông trở về và thành lập TSMC vào
năm 1987 với sự hỗ trợ của chính quyền Đài Loan (Trung Quốc).</p>
<p class="text-justify">Câu chuyện này cho thấy, thành công trong công nghệ cao thường
đến từ việc học hỏi trong môi trường tiên tiến, kết hợp với việc xây dựng một hệ
thống toàn diện - từ tri thức, nhân lực đến tư duy quản lý - cùng với sự hỗ trợ
hiệu quả từ Nhà nước để từng bước hướng tới tự chủ công nghệ.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86075" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/87f2309b7cd5489690dfbd1901e5a5d3-86075.png" alt="Khát vọng dân tộc: Động lực giúp Việt Nam bứt phá
trong cuộc đua công nghệ - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Theo Giáo sư, điểm chung của các quốc gia thành công trong phát triển
công nghệ lõi là gì? Việt Nam có thể học hỏi những gì từ các mô hình này?</i></b></p>
<p class="text-justify">Từ kinh nghiệm phát triển của các quốc gia, có thể rút ra
nhiều bài học để Việt Nam tham khảo.</p>
<p class="text-justify">Chẳng hạn, Nhật Bản đã thực hiện cuộc cải cách mang tính bước
ngoặt từ thế kỷ 19, xác định rõ mục tiêu “học phương Tây, theo kịp và vượt
phương Tây”. Để hiện thực hóa, nước này đã dịch toàn bộ tinh hoa tri thức từ
các ngôn ngữ lớn như Anh, Pháp, Đức sang tiếng Nhật. Đồng thời, họ vẫn kiên định
với triết lý “Văn minh Tây phương, văn hóa Nhật Bản” - tức là tiếp thu công nghệ
nhưng không đánh mất bản sắc.</p>
<p class="text-justify">Bài học của Đài Loan (Trung Quốc) lại bắt đầu từ những nền tảng
rất cơ bản. Trong giai đoạn đầu, hoạt động sản xuất chủ yếu là gia công đơn giản,
nhưng từ đó họ từng bước nâng cấp năng lực, chuyển dịch lên các khâu có giá trị
cao hơn. Nhờ chiến lược này, Đài Loan đã xây dựng được những tập đoàn công nghệ
hàng đầu như TSMC và tham gia sâu vào hệ sinh thái toàn cầu cùng các doanh nghiệp
như Nvidia. Điều này cho thấy, phát triển công nghệ không chỉ là câu chuyện của
một ngành, mà là sự đồng thuận và quyết tâm của cả xã hội, với sự gắn kết chặt
chẽ giữa nhà nước, doanh nghiệp và giới khoa học.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, yếu tố con người và tính kỷ luật là nền tảng cốt
lõi tạo nên thành công. Công nghệ và sản phẩm luôn xuất phát từ nhu cầu thực tiễn,
chính tính kỷ luật giúp biến những nhu cầu đó thành các giải pháp hiệu quả và bền
vững.</p>
<p class="text-justify">Tựu trung lại, chính sách của Nhà nước đóng vai trò quyết định.
Việc phát hiện, trọng dụng và đãi ngộ nhân tài, cùng với tầm nhìn của người
lãnh đạo, là chìa khóa để mở ra con đường phát triển công nghệ trong dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Như một triết lý đã nói: “Đừng khinh đốm lửa nhỏ, vì đốm lửa
nhỏ có thể đốt cháy rừng lớn; đừng khinh lỗ hổng nhỏ, vì lỗ hổng nhỏ có thể làm
đắm con thuyền lớn”. Những thay đổi nhỏ, nếu được tích lũy đúng hướng, có thể tạo
ra bước ngoặt lớn cho cả một quốc gia.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86076" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/e3036266b2e24f3491d850e4d3c65163-86076.png" alt="Khát vọng dân tộc: Động lực giúp Việt Nam bứt phá
trong cuộc đua công nghệ - Ảnh 7">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>[Trực tiếp] Tọa đàm “Khi thị trường đổi chiều: Hành trình thích ứng của SMEs”</title><description>C#225;c tổ chức t#237;n dụng đang chuyển từ m#244; h#236;nh dựa v#224;o t#224;i sản thế chấp sang kiến tạo số, x#226;y hệ sinh th#225;i: đ#225;nh gi#225; doanh nghiệp dựa tr#234;n dữ liệu, d#242;ng tiền v#224; c#225;c m#244; h#236;nh chấm điểm t#237;n dụng, kết hợp với cơ chế bảo l#227;nh. Sự dịch chuyển n#224;y đang t#225;i định h#236;nh d#242;ng chảy vốn, tạo lợi thế cho c#225;c doanh nghiệp minh bạch, nhưng cũng đặt ra th#225;ch thức lớn với những doanh nghiệp chậm chuyển đổi...</description><pubDate>Wed, 29 Apr 2026 01:55:00 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/truc-tiep-toa-dam-khi-thi-truong-doi-chieu-hanh-trinh-thich-ung-cua-smes.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/truc-tiep-toa-dam-khi-thi-truong-doi-chieu-hanh-trinh-thich-ung-cua-smes.htm</guid><atom:link href="/truc-tiep-toa-dam-khi-thi-truong-doi-chieu-hanh-trinh-thich-ung-cua-smes.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/e87eaf2e85ce4177a28fa7a38ec9d7d2-86015.jpg?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Các tổ chức tín dụng đang chuyển từ mô hình dựa vào tài sản thế chấp sang kiến tạo số, xây hệ sinh thái: đánh giá doanh nghiệp dựa trên dữ liệu, dòng tiền và các mô hình chấm điểm tín dụng, kết hợp với cơ chế bảo lãnh. Sự dịch chuyển này đang tái định hình dòng chảy vốn, tạo lợi thế cho các doanh nghiệp minh bạch, nhưng cũng đặt ra thách thức lớn với những doanh nghiệp chậm chuyển đổi...</h2><p class="text-justify">Những vấn đề chính được trao đổi tại tọa đàm:</p>
<ul class="unordered_list">
<li>Thực trạng hoạt động và vai trò của khu vực SMEs trong nền kinh tế;
</li>
<li>Tình hình tiếp cận tín dụng của SMEs hiện nay; </li>
</ul>
<ul class="unordered_list">
<li> Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng vay vốn của SMEs (tài sản bảo đảm, minh bạch tài chính, quản trị…);
</li>
<li>Mức độ phù hợp của mô hình tín dụng truyền thống đối với SMEs;</li>
<li>Xu hướng chuyển đổi sang mô hình tín dụng dựa trên dữ liệu và dòng tiền;</li>
<li>Vai trò của chuyển đổi số trong nâng cao khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp;</li>
<li>Mức độ sẵn sàng của SMEs trong việc chuẩn hóa dữ liệu và tham gia hệ sinh thái số;</li>
<li>Thực trạng và hiệu quả hoạt động của các cơ chế bảo lãnh tín dụng cho SMEs;</li>
<li>Những khó khăn trong kết nối giữa doanh nghiệp, ngân hàng và các quỹ hỗ trợ;</li>
<li>Khuyến nghị chính sách hỗ trợ SMEs cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng trong giai đoạn tới.</li>
</ul>
<p class="text-justify">Toạ đàm có sự tham gia của các khách mời:</p>
<ul class="unordered_list">
<li>TS. Tô Hoài Nam, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Doanh nghiệp nhỏ và vừa Việt Nam;
</li>
<li>GS.TS. Hoàng Văn Cường, Phó Chủ tịch Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam.
</li>
</ul>
<p class="text-justify">Điều hành tọa đàm: Nhà báo Ngô Xuân Vũ, Phó Tổng Thư ký Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy.</p>
<p class="text-justify">Trân trọng kính mời quý độc giả theo dõi tọa đàm trên các nền tảng 6pg88vn.com, FanPage VnEconomy vào lúc 9h ngày 29/4/2026.</p>
<div class="content-box align-center box_content box_content-2 "><p>Chương trình có sự đồng hành của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), một trong những định chế tiên phong trong phát triển giải pháp tài chính hiện đại, bền vững. Với định hướng KHÁCH HÀNG LÀ TRUNG TÂM, VietinBank không ngừng đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng, thúc đẩy tài chính xanh và chuyển đổi số, qua đó góp phần khơi thông nguồn lực, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế mới.</p>
</div>
<p style='text-align:right;'><em>-Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>[Trực tiếp] Tọa đàm “Ngân hàng đồng hành cùng doanh nghiệp: Từ cấp vốn đến kiến tạo tăng trưởng”</title><description>Kh#225;i niệm “ng#226;n h#224;ng kiến tạo số” phản #225;nh sự chuyển dịch vai tr#242; của ng#226;n h#224;ng từ cung cấp vốn sang tham gia s#226;u hơn v#224;o vận h#224;nh, quản trị v#224; tạo gi#225; trị cho doanh nghiệp th#244;ng qua c#225;c nền tảng số. M#244; h#236;nh n#224;y mở ra cơ hội tiếp cận t#237;n dụng nhanh hơn, tối ưu d#242;ng tiền v#224; kết nối hệ sinh th#225;i kinh doanh.</description><pubDate>Tue, 28 Apr 2026 01:57:10 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/truc-tiep-toa-dam-ngan-hang-dong-hanh-cung-doanh-nghiep-tu-cap-von-den-kien-tao-tang-truong.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/truc-tiep-toa-dam-ngan-hang-dong-hanh-cung-doanh-nghiep-tu-cap-von-den-kien-tao-tang-truong.htm</guid><atom:link href="/truc-tiep-toa-dam-ngan-hang-dong-hanh-cung-doanh-nghiep-tu-cap-von-den-kien-tao-tang-truong.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/85071542d41441b4bed7cfeb78f6a827-86008.jpg?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Khái niệm “ngân hàng kiến tạo số” phản ánh sự chuyển dịch vai trò của ngân hàng từ cung cấp vốn sang tham gia sâu hơn vào vận hành, quản trị và tạo giá trị cho doanh nghiệp thông qua các nền tảng số. Mô hình này mở ra cơ hội tiếp cận tín dụng nhanh hơn, tối ưu dòng tiền và kết nối hệ sinh thái kinh doanh.</h2><p class="text-justify">Tọa đàm sẽ làm rõ các vấn đề sau:</p>
<ul class="unordered_list">
<li>Khái niệm “ngân hàng kiến tạo số” và sự khác biệt so với ngân hàng số truyền thống; </li>
<li>Các mô hình vận hành của ngân hàng kiến tạo số (ngân hàng nền tảng, ngân hàng mở, tài chính tích hợp…);</li>
<li>Mức độ “kiến tạo số” của các ngân hàng Việt Nam hiện nay;</li>
<li>Giá trị mà ngân hàng kiến tạo số mang lại cho ngân hàng, doanh nghiệp và nền kinh tế;</li>
<li>Điều kiện để doanh nghiệp thực sự hưởng lợi từ mô hình ngân hàng kiến tạo số;</li>
<li>Những điểm nghẽn cản trở sự phát triển của ngân hàng kiến tạo số;</li>
<li>Thách thức về an ninh dữ liệu và bảo mật khi phát triển mô hình ngân hàng kiến tạo số.</li>
</ul>
<p class="text-justify">Toạ đàm có sự hiện diện của các chuyên
gia:</p>
<ul class="unordered_list">
<li>Ông Trần Quốc Chính, Phó Chủ tịch Tập đoàn CMC, Tổng Giám đốc CMC Cyber Security;</li>
</ul>
<ul class="unordered_list">
<li>PGS.TS Đặng Ngọc Đức, Viện trưởng Viện Công nghệ Tài chính, Trường Đại học Đại Nam;</li>
</ul>
<ul class="unordered_list">
<li>Nhà báo Ngô Xuân Vũ, Phó Tổng thư ký Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy.</li>
</ul>
<p class="text-justify">Trân trọng kính mời quý độc giả theo dõi tọa
đàm trên các nền tảng 6pg88vn.com, FanPage VnEconomy vào lúc 9h ngày
28/4/2026.</p>
<div class="content-box align-center box_content box_content-2 "><p>Chương trình có sự đồng hành của Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), một trong những định chế tiên phong trong phát triển giải pháp tài chính hiện đại, bền vững. Với định hướng KHÁCH HÀNG LÀ TRUNG TÂM, VietinBank không ngừng đổi mới, đa dạng hóa sản phẩm tín dụng, thúc đẩy tài chính xanh và chuyển đổi số, qua đó góp phần khơi thông nguồn lực, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi, phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh trong bối cảnh kinh tế mới.</p>
</div>
<p style='text-align:right;'><em>-Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số</title><description>D#249; đạt mức tăng trưởng ấn tượng 8,02% trong năm 2025, kinh tế Việt Nam năm 2026 vẫn đối mặt với những th#225;ch thức nội tại về chất lượng v#224; năng suất. V#236; vậy, đ#227; đến l#250;c phải chuyển dịch từ m#244; h#236;nh t#237;ch lũy nguồn lực truyền thống sang tối ưu h#243;a dựa tr#234;n nền tảng kinh tế số v#224; thể chế thực thi. Trong đ#243;, cần thay đổi tư duy đầu tư c#244;ng, x#225;c lập m#244; h#236;nh tăng trưởng xanh v#224; vận h#224;nh hiệu quả c#225;c cơ chế thử nghiệm (Sandbox) để AI v#224; kinh tế số thực sự trở th#224;nh động lực của nền kinh tế.</description><pubDate>Tue, 28 Apr 2026 01:32:49 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/kinh-te-viet-nam-2026-kien-tao-dong-luc-tang-truong-tu-ha-tang-so.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/kinh-te-viet-nam-2026-kien-tao-dong-luc-tang-truong-tu-ha-tang-so.htm</guid><atom:link href="/kinh-te-viet-nam-2026-kien-tao-dong-luc-tang-truong-tu-ha-tang-so.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/518062b11b7248daa38b25694f6bab00-86099.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Dù đạt mức tăng trưởng ấn tượng 8,02% trong năm 2025, kinh tế Việt Nam năm 2026 vẫn đối mặt với những thách thức nội tại về chất lượng và năng suất. Vì vậy, đã đến lúc phải chuyển dịch từ mô hình tích lũy nguồn lực truyền thống sang tối ưu hóa dựa trên nền tảng kinh tế số và thể chế thực thi. Trong đó, cần thay đổi tư duy đầu tư công, xác lập mô hình tăng trưởng xanh và vận hành hiệu quả các cơ chế thử nghiệm (Sandbox) để AI và kinh tế số thực sự trở thành động lực của nền kinh tế.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="86085">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/f1480081c4484eec87f15b3a8439d7cb-86085.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86086">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/b6e5a40e644e44a0b4b7ffa250a856ba-86086.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86087" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/bb7333bc1a5b4d7a98c5c040e9386c88-86087.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Bức tranh kinh tế vĩ mô năm 2025 cho thấy chúng ta đạt được
tốc độ tăng trưởng cao và ấn tượng, khoảng 8,02%, nhưng mô hình tăng trưởng
phía sau dường như vẫn chưa thoát khỏi cái bóng của phương thức truyền thống dựa
trên tín dụng. Chất lượng tăng trưởng hiện nay đang bộc lộ những dấu hiệu đáng
quan tâm, đặc biệt là biến số về Năng suất nhân tố tổng hợp (TFP). Điều này
thôi thúc chúng ta phải tạo ra một hiệu ứng tăng trưởng mang tính hệ thống hơn.
</p>
<p class="text-justify">Về kinh tế số, không nên coi đây là một khu vực kinh tế
riêng biệt. Dù chúng ta đặt ra các chỉ tiêu pháp lệnh trong Nghị quyết Đại hội
Đảng, nhưng thực tế tỷ trọng kinh tế số năm 2025 mới chỉ đạt 14,02%, còn khoảng
cách khá xa so với mục tiêu 20%. Tôi cho rằng chúng ta nên nhìn nhận kinh tế số
như một “hạ tầng của tăng trưởng” hơn là một khu vực kinh tế đơn thuần; bởi khi
đóng vai trò hạ tầng, nó sẽ mang tính chất kiến tạo cho toàn bộ nền kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Báo cáo Đánh giá kinh tế Việt Nam năm 2025 của Đại học Kinh
tế Quốc dân đã chỉ ra một điểm bản chất: kinh tế số lõi hiện chiếm khoảng 60%,
nhưng động lực thực sự phải nằm ở tác động lan tỏa đến các ngành kinh tế quốc
dân khác thông qua hệ số lan tỏa và tác động xuôi - ngược. Mục tiêu đảo ngược cấu
trúc thành 60% là kinh tế số lan tỏa và 40% là kinh tế số lõi sẽ rất khó đạt được
ngay, nên trước mắt chúng ta cần đầu tư đồng bộ cả công nghệ lõi, bán dẫn và hạ
tầng năng lượng số. </p>
<p class="text-justify">Quan trọng hơn, Việt Nam đang đứng trước yêu cầu cấp bách phải
chuyển dịch tư duy từ việc “tích lũy thêm nguồn lực” sang “tối ưu hóa nguồn lực”
vì các nguồn lực truyền thống đang dần hạn hẹp và tác động cận biên ngày càng
giảm dần. Chúng ta đã có đủ các Nghị quyết cho mọi thành phần kinh tế, từ kinh
tế tư nhân đến kinh tế nhà nước và tới đây là FDI, nhưng thiếu sự phối hợp hợp
lý và một tầm nhìn kiến tạo chung. Vai trò của thể chế lúc này chính là kết nối
các nguồn lực này lại với nhau. </p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, đầu tư công cũng cần được hiểu theo cách mới, tập
trung vào tác động lan tỏa và khả năng kích hoạt hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Trong bối cảnh năm 2026 với nhiều biến số địa chính trị, tăng trưởng nhanh và
xanh thôi là chưa đủ, mà phải gắn chặt với năng lực chống chịu của nền kinh tế.
Chúng ta cần một “lá chắn” vững chắc dựa trên cơ sở một quan điểm đánh giá toàn
diện và tầm nhìn mang tính kiến tạo tăng trưởng, tối ưu hóa nguồn lực để đạt được
mục tiêu bền vững trong những năm tới”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86088">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/0d155b3f12454f4db3f5453a256f71ca-86088.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86089" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/c217bc3da9dd47239d60e3b2b72c28aa-86089.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Về sức khỏe cộng đồng doanh nghiệp, không có một bức tranh
chung duy nhất. Trong khi các tập đoàn lớn đang rất sôi nổi với các dự án mới nhờ
chính sách tháo gỡ, thì khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa và hộ kinh doanh lại trầm
lắng hơn nhiều. Kết quả điều tra hơn 1.000 hộ kinh doanh của VCCI cho thấy các
hộ kinh doanh chủ yếu đang “cầm cự” trước sức ép chi phí vận tải và nguyên liệu
tăng mạnh do biến động địa chính trị. </p>
<p class="text-justify">Chính phủ đã có những nỗ lực đột phá với tinh thần “vướng là
gỡ” thông qua quy trình lập pháp thần tốc, điển hình là việc sửa Luật Thuế giá
trị gia tăng ngay sau khi có hiệu lực, hay việc Thủ tướng Chính phủ quyết liệt
đưa mức thuế xăng dầu về 0%. Đây là minh chứng cho một tư duy điều hành mới, sẵn
sàng phá vỡ rào cản truyền thống. </p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, việc thực thi vẫn đáng lo ngại khi khối lượng văn
bản quá lớn khiến các bộ không kịp ban hành hướng dẫn; chẳng hạn Luật Đầu tư có
hiệu lực từ đầu năm 2026 nhưng thiếu Nghị định hướng dẫn khiến địa phương phải
trả lại hồ sơ dự án, gây ùn tắc cho doanh nghiệp. Việc ban hành văn bản rút gọn
có hiệu lực ngay như Nghị định số 46/2026/NĐ-CP ngày 26/1/2026 đôi khi cũng gây
xáo trộn, khiến doanh nghiệp không kịp trở tay.</p>
<p class="text-justify">Về trí tuệ nhân tạo (AI), công nghệ đang đi quá nhanh so với
cách tiếp cận truyền thống. Các hệ thống AI mới thậm chí đã khiến ngành ngân
hàng phải “báo động đỏ” về bảo mật. Doanh nghiệp Việt Nam tuy năng động nhưng
đang lo ngại về xu hướng sa thải nhân lực và rào cản về quy mô nhỏ và vừa khiến
họ khó thuê nhân tài công nghệ cao. Đặc biệt, doanh nghiệp nội đang bị lép vế
ngay trên sân nhà trước các tập đoàn xuyên quốc gia do chi phí tuân thủ quy định
trong nước quá cao. </p>
<p class="text-justify">Muốn phát triển công nghệ, cần ban hành ít chính sách, hãy để
không gian phát triển trước khi luật hóa. Theo đó, chúng ta nên áp dụng cách tiếp
cận ‘Light-touch regulation’ (quản lý nhẹ nhàng) mang tính hỗ trợ và kiến tạo
không gian thử nghiệm”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86090">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/74a6ed645e7c479fb205ba9156220c61-86090.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86091" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/86e7fd84c30d43faa8523c5585462694-86091.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Đánh giá một cách khách quan và khoa học, chất lượng tăng
trưởng của Việt Nam hiện nay vẫn chưa thực sự bền vững. </p>
<p class="text-justify">Thứ nhất, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra quá chậm; từ
năm 2020 đến 2025, tỷ trọng ngành dịch vụ chỉ tăng thêm được một điểm phần
trăm, trong khi mục tiêu của một nước công nghiệp hóa thì tỷ trọng này phải
trên 60%. </p>
<p class="text-justify">Thứ hai, giá trị gia tăng trong nội ngành vẫn rất thấp. Việt
Nam vẫn lệ thuộc quá mức vào khu vực FDI với mô hình gia công, lắp ráp là
chính, chưa thể làm chủ công nghệ để đạt giá trị gia tăng cao. Tăng trưởng vẫn
chủ yếu dựa vào chiều rộng mà thiếu chiều sâu. </p>
<p class="text-justify">Thứ ba, vấn đề năng suất. Đầu tư cho khoa học, công nghệ của
Việt Nam hiện nay vẫn chưa đạt mức 2% GDP mục tiêu, trong khi mặt bằng thế giới
là 2,2%. Đặc biệt, chỉ số TFP của Việt Nam tăng trưởng âm trong năm vừa qua phản
ánh sự suy giảm vai trò của các yếu tố chiều sâu như công nghệ, quản trị và hiệu
quả phân bổ nguồn lực.</p>
<p class="text-justify">Thứ tư, mâu thuẫn với mục tiêu tăng trưởng xanh. Chúng ta đặt
mục tiêu tăng trưởng cao nhưng càng tăng trưởng thì càng phát thải. Cường độ
phát thải trên GDP của Việt Nam cao hơn mặt bằng chung khu vực và tốc độ tăng
trưởng phát thải khoảng 6%/năm. Trong khi đó, các nguồn lực cho chuyển đổi xanh
lại rất khiêm tốn: tín dụng xanh chỉ chiếm 4,2% tổng dư nợ và chỉ có 3,6% lao động
liên quan đến lĩnh vực này. </p>
<p class="text-justify">Về khía cạnh kinh tế số, Việt Nam đã đặt mục tiêu kinh tế số
chiếm khoảng 20% GDP vào năm 2025, nhưng hiện nay con số này mới chỉ là 14,02%,
vẫn còn thiếu hụt 6 điểm phần trăm, khiến nó chưa đủ quy mô để tạo ra cú hích
năng suất. Chúng ta đang chứng kiến sự bùng nổ của thương mại điện tử và
logistics, nhưng mảng quan trọng nhất là sản xuất thông minh và nông nghiệp
thông minh lại phát triển rất hạn chế. </p>
<p class="text-justify">Tôi cho rằng cần phải đặt kinh tế số và chuyển đổi xanh
trong một tổng thể cơ cấu lại nền kinh tế gắn với mô hình phát triển mới. Theo
đó, cần đầu tư mạnh mẽ vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo – ngành đóng góp
GDP lớn nhất – để nâng cao năng suất và tăng cường khả năng tự chủ thay vì phụ
thuộc vào khối FDI. </p>
<p class="text-justify">Việt Nam cũng cần một lộ trình ưu tiên, trong đó, ngành nào
“khỏe” như dịch vụ, du lịch thì đi trước, ngành khó như nông nghiệp thì đi sau
bởi việc tiếp cận của nông dân, nhất là ở vùng cao còn nhiều hạn chế. Tăng trưởng
cao trong giai đoạn tới bắt buộc phải gắn liền với chuyển đổi số và chuyển đổi
xanh mới có thể đi dài và bền vững”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86092">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/54767aa1355846e38dbe412adf19bf41-86092.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86093" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/ca9069d4a8e14791b873bf193999c4f7-86093.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Theo tôi, nên tập trung vào các vấn đề cần xử lý để đạt mục
tiêu tăng trưởng hai con số trong năm 2026 – một đích đến đầy kỳ vọng nhưng có
cơ sở từ kết quả hơn 8% của năm 2025. Việt Nam có những tiền đề thể chế rất tốt
từ các Nghị quyết của Bộ Chính trị và Kết luận số 18-KL/TW Hội nghị lần thứ 2
Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV. Tuy nhiên, tôi cho rằng vấn đề lớn nhất
hiện nay nằm ở khâu thực thi chứ không phải ở khâu thiết kế chính sách. </p>
<p class="text-justify">Việt Nam là một trong những quốc gia được đánh giá có tốc độ
xây dựng chính sách rất nhanh nhưng chính sự thần tốc này lại dẫn đến sai sót ở
các văn bản hướng dẫn cấp thấp hơn, trong khi vai trò của dữ liệu thời gian thực
vẫn còn mờ nhạt. Năm 2025, có 173 văn bản ban hành chậm hơn hiệu lực của luật;
năm 2026 với khối lượng khổng lồ gần 90 luật mới, nếu không có văn bản hướng dẫn
kịp thời, cơ hội của nền kinh tế sẽ vụt mất. </p>
<p class="text-justify">Thêm vào đó là tâm lý “ngại” của cán bộ thực thi. Như trường
hợp một dự án tài trợ 4 tỷ đồng cho sáng kiến số đã bị đình trệ chỉ vì cơ quan
thẩm định không dám làm do không biết dựa vào đâu để định giá giá trị của các
dòng code.</p>
<p class="text-justify">Về mức độ sẵn sàng cho kinh tế số, dù có tốc độ thay đổi
chính sách nhanh nhất khu vực, nhưng khả năng hấp thụ của doanh nghiệp vẫn là một
dấu hỏi lớn khi 48% doanh nghiệp nhỏ và vừa đã từ bỏ giải pháp chuyển đổi số
ngay sau dịch Covid-19. Chúng ta đang thảo luận nhiều về giao kết hợp đồng trên
nền tảng số, nhưng việc thực thi và giải quyết tranh chấp sau đó dường như vẫn
bị bỏ ngỏ. </p>
<p class="text-justify">Tôi tin rằng cơ chế thử nghiệm (Sandbox) sẽ đóng vai trò
quan trọng trong thời gian tới để gắn kết kinh tế số với đổi mới sáng tạo. Theo
đó, cần có những Sandbox về tài chính cho tài sản trí tuệ – cho phép dùng trí
tuệ để thế chấp vay vốn – hay các Sandbox về dịch chuyển dữ liệu xuyên biên giới
tại các khu thương mại tự do để tránh rào cản từ các quy định bảo vệ dữ liệu hiện
hành.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, cần tránh “bẫy Sandbox”, đó là tâm lý: thử nghiệm
nên không cần vội, dẫn đến việc nghiên cứu Sandbox còn lâu hơn cả luật bình thường
hoặc dùng Sandbox để trì hoãn những việc lẽ ra có thể luật hóa ngay”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86094">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/50751b61fd9d41ff9d92d896afadfb0a-86094.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 10">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86095" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/d51f624fe4864377af74f6c6a691bcb1-86095.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 11">
</figure>
<p class="text-justify">“Kinh tế số thực chất là việc ứng dụng hiệu quả công nghệ số
để thay đổi mô hình tăng trưởng, đó là trách nhiệm chung của toàn xã hội chứ
không phải của riêng một cơ quan nào. Theo Nghị quyết 57-NQ/TW về đột phá phát
triển khoa học, công nghệ, chúng ta tập trung vào 5 trụ cột: thể chế, nhân lực,
hạ tầng, dữ liệu và công nghệ chiến lược, trong đó thể chế phải là điều kiện
tiên quyết và đi trước một bước. Chính sách được ban hành nhanh nhưng đưa vào
cuộc sống là việc khó, vì đặc thù kinh tế số thay đổi từng ngày. Chúng tôi đang
cùng các bộ, ngành hướng tới các Sandbox cụ thể, như mô hình “Kinh tế hàng
không tầm thấp” tại Điện Biên để rút kinh nghiệm và lan tỏa. </p>
<p class="text-justify">Về dữ liệu, đây là tư liệu sản xuất mới, nhưng vướng mắc hiện
nay là làm sao khai phá được dữ liệu mà vẫn đảm bảo cân đối giữa an ninh quốc
phòng và phát triển kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Về công nghệ chiến lược, cần tránh việc gia công giá trị gia
tăng thấp, mà phải thực sự kiểm soát và làm chủ theo danh mục công nghệ đã được
Thủ tướng ban hành. </p>
<p class="text-justify">Về mặt điều phối, không cần quá nhiều cơ quan chồng chéo gây
khó khăn trong triển khai. Hiện nay, hệ thống chỉ đạo đã được thiết lập xuyên
suốt từ Ban Chỉ đạo Trung ương, do lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước trực
tiếp chỉ đạo, đến các ban ngành địa phương. Trong đó, kinh tế số là một mắt
xích quan trọng. </p>
<p class="text-justify">Để đạt hiệu quả thực chất, mỗi bộ, ngành phải cụ thể hóa mục
tiêu số vào chương trình hành động, có cơ chế đo lường định kỳ và gắn chặt với
trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu. Chúng tôi đang cấp tốc hoàn thiện các
Nghị định hướng dẫn để khi luật có hiệu lực là thực thi được ngay. Đồng thời, Bộ
Khoa học và Công nghệ đang tập trung xây dựng Chương trình phát triển Kinh tế số
và Xã hội số giai đoạn mới nhằm thể hiện rõ nét trách nhiệm của từng thành phần
trong nền kinh tế và tạo ra chuyển biến thực chất hơn là chỉ chú trọng số lượng
văn bản”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86096">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/fcdc5b1ebf2941c590e978118064b0a2-86096.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 12">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86097" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/ee8fd4fc1fcf47b68b7f6b10968361f8-86097.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 13">
</figure>
<p class="text-justify">“Câu hỏi về việc cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và ổn định
vĩ mô là một vấn đề rất rộng, nhưng nếu nhìn vào các rủi ro hệ thống từ chính
sách tiền tệ và đầu tư công có thể thấy hiện nay, chiến lược của Việt Nam đang
dựa quá lớn vào các dự án hạ tầng khổng lồ. Theo kế hoạch đầu tư trung hạn 2026
- 2030, Việt Nam cần tới 38,5 triệu tỷ đồng (một con số quá lớn so với mức vài
trăm nghìn tỷ đồng của 10 năm trước), trong đó riêng đầu tư công chiếm 8,2 triệu
tỷ đồng.</p>
<p class="text-justify">Như vậy, tổng đầu tư toàn xã hội cần thiết trong 5 năm tới ước
tính chiếm khoảng 39 - 40% GDP mỗi năm, trong khi hiện nay chỉ khoảng 30%. Với
đầu tư công 8,2 triệu tỷ đồng cũng sẽ nâng thâm hụt ngân sách lên khoảng 5%
GDP/năm, so với mức 3% hiện tại. Điều này có thể tạo ra sự thiếu hụt trong cân
đối tiết kiệm - đầu tư trong nước, buộc phải vay nợ nước ngoài hoặc phụ thuộc
vào thị trường chứng khoán. Hệ quả tất yếu là thâm hụt thương mại khổng lồ vì
các dự án lớn như đường sắt cao tốc hay điện hạt nhân đòi hỏi nhập khẩu máy móc
thiết bị rất lớn, gây sức ép tỷ giá rất lớn.</p>
<p class="text-justify">Cần lưu ý bài học giai đoạn 2006 - 2012 khi đầu tư công nở rộ
sau gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã để lại những hậu quả như thế
nào. Khi nhu cầu vốn quá lớn mà tiết kiệm trong nước không đủ, sức ép sẽ dồn
lên hệ thống ngân hàng, dẫn đến cuộc đua lãi suất và lạm phát hai con số. Nếu
Ngân hàng Trung ương quá dễ dãi trong việc đáp ứng tín dụng, tiền sẽ mất giá,
khi đó người dân sẽ không đổ vốn vào sản xuất nữa mà chuyển sang trú ẩn vào ngoại
tệ, vàng và bất động sản.</p>
<p class="text-justify">Điều đáng quan ngại là xu hướng thúc đẩy đầu tư qua các dự
án BT. Thực tế, phần lớn các dự án này bản chất là bất động sản, không phục vụ
sản xuất hàng hóa để thu ngoại tệ mà rủi ro là kích hoạt các vòng xoáy bong
bóng. </p>
<p class="text-justify">Các quốc gia thành công như Nhật Bản, Hàn Quốc hay Trung Quốc
đều thực hiện chiến lược đầu tư hạ tầng dựa trên nền sản xuất hàng hóa hướng về
xuất khẩu mạnh mẽ để tạo thặng dư ngoại tệ khổng lồ làm nguồn lực. </p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, thặng dư thương mại của Việt Nam hiện nay lại
chủ yếu là khối FDI – chiếm tới 80% giá trị xuất khẩu trong quý 1/2026. Việt
Nam chỉ thu được phần nhỏ từ thuế và nhân công rẻ, trong khi lợi nhuận FDI lại
có xu hướng chảy ra nước ngoài do chênh lệch lãi suất. </p>
<p class="text-justify">Vì vậy, Việt Nam cần có những đột phá chính sách như ưu tiên
hỗ trợ doanh nghiệp nội địa xuất khẩu thông qua ưu đãi vốn dài hạn, nội địa hóa
nguyên liệu và xây dựng thương hiệu quốc gia như mô hình quả Kiwi của New
Zealand. Chính sách tiền tệ lúc này phải là “mỏ neo” ổn định, tỷ giá phải linh
hoạt để hấp thụ cú sốc, tránh lặp lại bài học khủng hoảng Thái Lan năm 1997 do
sự cứng nhắc trong điều hành”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="86098">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/27/5d7e7fefb62b4f649bb1f6e909f3a9c0-86098.png" alt="Kinh tế Việt Nam 2026: Kiến tạo động lực tăng trưởng từ hạ tầng số - Ảnh 14">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Thực phẩm và đồ uống: Lĩnh vực năng động và thiết yếu nhất trên toàn cầu</title><description>Những tiến bộ c#244;ng nghệ trong chế biến v#224; đ#243;ng g#243;i cũng đang n#226;ng cao hiệu quả sản xuất v#224; thời hạn sử dụng của c#225;c mặt h#224;ng. Tuy nhi#234;n, thị trường phải đối mặt với những th#225;ch thức như sự phức tạp về quy định, gi#225;n đoạn chuỗi cung ứng v#224; chi ph#237; nguy#234;n vật liệu ng#224;y c#224;ng tăng. Mặc d#249; c#243; những trở ngại n#224;y, ng#224;nh Famp;B vẫn ki#234;n cường với tiềm năng mạnh mẽ ở c#225;c thị trường mới nổi v#224; c#225;c k#234;nh b#225;n lẻ kỹ thuật số.</description><pubDate>Thu, 23 Apr 2026 01:00:00 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/thuc-pham-va-do-uong-linh-vuc-nang-dong-va-thiet-yeu-nhat-tren-toan-cau.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/thuc-pham-va-do-uong-linh-vuc-nang-dong-va-thiet-yeu-nhat-tren-toan-cau.htm</guid><atom:link href="/thuc-pham-va-do-uong-linh-vuc-nang-dong-va-thiet-yeu-nhat-tren-toan-cau.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/20/d54596db09c247e0909d5d61aa9f4486-84543.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Những tiến bộ công nghệ trong chế biến và đóng gói cũng đang nâng cao hiệu quả sản xuất và thời hạn sử dụng của các mặt hàng. Tuy nhiên, thị trường phải đối mặt với những thách thức như sự phức tạp về quy định, gián đoạn chuỗi cung ứng và chi phí nguyên vật liệu ngày càng tăng. Mặc dù có những trở ngại này, ngành FB vẫn kiên cường với tiềm năng mạnh mẽ ở các thị trường mới nổi và các kênh bán lẻ kỹ thuật số.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="84536">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/20/ccf90a71fe484eea82471fcc7a52558a-84536.png" alt="Thực phẩm và đồ uống: Lĩnh vực năng động và thiết yếu nhất trên toàn cầu - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84537">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/20/86e6f5bcea274d0e8fccecd1a00ab78e-84537.png" alt="Thực phẩm và đồ uống: Lĩnh vực năng động và thiết yếu nhất trên toàn cầu - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84539">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/20/f1c4efc20e754b249d6c9997a50a7232-84539.png" alt="Thực phẩm và đồ uống: Lĩnh vực năng động và thiết yếu nhất trên toàn cầu - Ảnh 3">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84542" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/20/e908eb5b873b468db675771ae3f563e0-84542.png" alt="Thực phẩm và đồ uống: Lĩnh vực năng động và thiết yếu nhất trên toàn cầu - Ảnh 4">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia </title><description>Những c#250; sốc từ xung đột quốc tế kh#244;ng chỉ đẩy chi ph#237; nhi#234;n liệu, l#227;i suất v#224; tỷ gi#225; tăng vọt, m#224; c#242;n bộc lộ những “lỗ hổng” trong hạ tầng dự trữ quốc gia của Việt Nam. Trước y#234;u cầu cấp b#225;ch về việc khẩn trương ho#224;n thiện hệ thống kho dự trữ dầu th#244; v#224; xăng dầu tại c#225;c địa điểm chiến lược như Nghi Sơn, Dung Quất, c#225;c chuy#234;n gia nhấn mạnh cần một tư duy quản trị tổng thể v#224; nhất qu#225;n...</description><pubDate>Thu, 23 Apr 2026 00:00:00 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/cung-co-la-chan-nang-luong-quoc-gia.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/cung-co-la-chan-nang-luong-quoc-gia.htm</guid><atom:link href="/cung-co-la-chan-nang-luong-quoc-gia.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/186fc4d82ef944fcae3b0060393c6be8-84209.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Những cú sốc từ xung đột quốc tế không chỉ đẩy chi phí nhiên liệu, lãi suất và tỷ giá tăng vọt, mà còn bộc lộ những “lỗ hổng” trong hạ tầng dự trữ quốc gia của Việt Nam. Trước yêu cầu cấp bách về việc khẩn trương hoàn thiện hệ thống kho dự trữ dầu thô và xăng dầu tại các địa điểm chiến lược như Nghi Sơn, Dung Quất, các chuyên gia nhấn mạnh cần một tư duy quản trị tổng thể và nhất quán...</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="84192">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/35570adf67ce4fba9107676a26889fb4-84192.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84193">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/b82b40708d8d41f19c145e1659e69902-84193.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84194" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/fdb4375844bc4f428a30dd7229a51914-84194.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Trong thời gian qua, công tác dự trữ quốc gia luôn nhận được
sự quan tâm từ Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ, thể hiện rõ nét qua việc phê
duyệt Chiến lược phát triển dự trữ quốc gia đến năm 2030 tại Quyết định
305/QĐ-TTg ban hành ngày 12/4/2024. Chiến lược này đã xác định lộ trình phát
triển dự trữ đối với nhiều mặt hàng thiết yếu, trong đó nhấn mạnh đến mặt hàng
xăng dầu và dầu thô. </p>
<p class="text-justify">Trước đó, ngày 18/7/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành
Quyết định số 861/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch hạ tầng dự trữ, cung ứng xăng dầu,
khí đốt quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đây là một trong
38 quy hoạch ngành quốc gia trọng điểm, tạo cơ sở pháp lý để Bộ Công Thương phối
hợp cùng các bộ, ngành và địa phương triển khai xác định địa điểm, quy mô cũng
như lộ trình đầu tư hệ thống kho dự trữ đồng bộ.</p>
<p class="text-justify">Về tình hình thực hiện, trong khi hệ thống kho dự trữ sản phẩm
xăng dầu đã được các đơn vị đầu mối đầu tư xây dựng khá mạnh mẽ, thì hạ tầng dự
trữ dầu thô hiện vẫn chủ yếu gắn liền với các nhà máy lọc dầu như Dung Quất và
Nghi Sơn. Trước thực tế đó, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo và giao Tập đoàn
Công nghiệp – Năng lượng quốc gia Việt Nam (PetroVietnam) nghiên cứu đề án đầu
tư xây dựng kho dự trữ dầu thô tại Nghi Sơn. Yêu cầu đặt ra là phải xác định cụ
thể quy mô, phân kỳ đầu tư, nguồn vốn và lộ trình triển khai; đồng thời đề xuất
các cơ chế, chính sách ưu đãi nhằm tháo gỡ những vướng mắc về vận hành và quản
lý dầu thô dự trữ vốn đang được dư luận quan tâm.</p>
<p class="text-justify">Song song với dự án tại Nghi Sơn, Thủ tướng cũng giao Bộ
Công Thương tiếp tục phối hợp với các bên liên quan để nghiên cứu, triển khai hạ
tầng dự trữ tại các địa điểm chiến lược khác như Dung Quất và Long Sơn theo
đúng quy hoạch ngành quốc gia. Việc thực hiện đồng bộ giữa Chiến lược dự trữ quốc
gia và Quy hoạch hạ tầng sẽ là yếu tố then chốt giúp sớm hoàn thiện hệ thống dự
trữ năng lượng, đáp ứng các mục tiêu an ninh năng lượng đã được phê duyệt”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84195">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/674afded90894522aa89cf81ecc3b34f-84195.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84196" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/3bbc09e3d1dc4f95bc9ccb07c23b86c9-84196.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Để giải quyết căn cơ vấn đề xăng dầu và năng lượng hiện
nay, Việt Nam cần một tư duy tổng thể, phân định rõ ràng giữa các kịch bản ngắn
hạn, trung hạn và dài hạn thay vì cách tiếp cận mang tính tình thế.</p>
<p class="text-justify">Hiện nay, các giải pháp ngắn hạn chủ yếu tập trung vào các
công cụ can thiệp trực tiếp của Nhà nước như ngoại giao kinh tế hay giảm thuế,
phí xăng dầu để hỗ trợ thị trường. Tuy nhiên, cần xác định rõ thời hạn của các
biện pháp này và cần có kế hoạch cụ thể cho giai đoạn trung hạn thay vì chỉ dừng
lại ở các bước ứng phó tức thời. Một hệ thống chính sách năng lượng bền vững phải
dựa trên ba trụ cột chính. </p>
<p class="text-justify">Thứ nhất, đảm bảo và đa dạng hóa nguồn cung. Đây là yếu tố
then chốt, đòi hỏi chúng ta phải vừa đảm bảo nguồn cung truyền thống, vừa nỗ lực
đa dạng hóa, cơ cấu lại các loại hình năng lượng mới.</p>
<p class="text-justify">Thứ hai, chuyển đổi cơ cấu và tiết kiệm năng lượng. Trong cả
trung và dài hạn, cần thúc đẩy việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả từ
phía người dân đến doanh nghiệp. Song, thách thức thực tế hiện nay là việc chuyển
đổi sang xe điện không hề đơn giản, vì sẽ tạo áp lực rất lớn lên hệ thống truyền
tải và điều độ điện lưới khi nhu cầu sạc tăng vọt. Do đó, cần chính sách khuyến
khích điện mặt trời áp mái cho hộ gia đình để giải quyết nhu cầu tại chỗ trong
ngắn hạn.</p>
<p class="text-justify">Thứ ba, cải cách cơ chế giá và điều tiết nhu cầu. Chúng ta cần
thay đổi cấu trúc giá điện, đặc biệt là xóa bỏ việc bù chéo giữa điện công nghiệp
và điện sinh hoạt. Cần áp dụng cơ chế giá theo khung giờ (cao điểm và thấp điểm)
để điều chỉnh hành vi tiêu dùng. Hiện nay, việc thiếu hệ thống đồng hồ đo điện
theo giờ khiến người dân không có động lực thay đổi giờ giấc sử dụng thiết bị
(như máy giặt, máy sấy), dẫn đến khó khăn trong việc điều tiết phụ tải hệ thống.</p>
<p class="text-justify">Đặc biệt, vấn đề cốt yếu nhất mà Việt Nam đang thiếu là tính
nhất quán trong chính sách. Trong quan hệ đối tác, việc thay đổi đối tác cung ứng
xăng dầu hay đột ngột dừng các dự án điện lớn dễ tạo ra tâm lý e ngại cho các đối
tác quốc tế về sự ổn định của thị trường Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Trong điều hành ngành, chính sách đối với điện gió, điện mặt
trời thời gian qua có hiện tượng lúc mở ra quá rộng với giá cao, lúc lại thắt
chặt quá mức. Điều này cho thấy sự thiếu hụt các tính toán chi tiết và kịch bản
ứng phó bài bản.</p>
<p class="text-justify">Nếu không sớm xây dựng được các kịch bản chi tiết và duy trì
tính nhất quán trong điều hành, chúng ta sẽ mãi ở trong tình thế “ăn đong”, bị
động trước mọi biến động của thị trường năng lượng thế giới”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84197">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/9b87ef23005e478382fcfde7c411cca2-84197.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84198" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/3965d748b61d4f508436b524564ab606-84198.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Hiện nay, một trong những vấn đề quan trọng là chiến lược dự
trữ năng lượng quốc gia. Các quốc gia thành viên IEA (Cơ quan Năng lượng quốc tế)
đều duy trì mức dự trữ ít nhất 90 ngày để bình ổn thị trường khi khủng hoảng. Tại
Việt Nam, nguy cơ không chỉ nằm ở giá cả mà là sự thiếu hụt nhiên liệu. Năng lực
sản xuất dầu diesel trong nước hiện chỉ đáp ứng được hơn 10%, phần lớn vẫn phụ
thuộc hoàn toàn vào nhập khẩu. Nếu hệ thống logistics (gồm: đường sắt, đường thủy
và hàng không) ngưng trệ do thiếu dầu diesel, nền kinh tế sẽ tê liệt. </p>
<p class="text-justify">Câu chuyện về chuyển đổi Net Zero là một quá trình rất dài,
có thể đến năm 2050 hoặc kéo dài hơn nữa, tùy theo lộ trình của Chính phủ. Tuy
nhiên, trong ngắn hạn, đây là một áp lực cực kỳ lớn khi đặt vào bài toán an
ninh năng lượng. Làm sao để đảm bảo cung ứng, làm sao để chúng ta vẫn tồn tại
được trước những cú sốc của thị trường thế giới?</p>
<p class="text-justify">Ngoài ra, các nhà hoạch định chính sách còn đối mặt với sức
ép thuế quan từ các đối tác lớn như Hoa Kỳ. Việc nhập khẩu LNG đôi khi không chỉ
là bài toán năng lượng mà còn là công cụ để cân bằng thương mại, tránh bị áp
thuế cao gây ảnh hưởng đến thị trường xuất khẩu và lao động trong nước.</p>
<p class="text-justify">Từ thực tế này, chúng ta cần rà soát và đánh giá lại tất cả
các chiến lược phát triển năng lượng, cần tránh phụ thuộc quá nhiều vào nguồn
nhập khẩu như LNG vì rủi ro rất cao. </p>
<p class="text-justify">Quyết sách về Net Zero là đúng, nhưng có lẽ hơi nhanh so với
năng lực hiện tại của Việt Nam. Do đó, chúng ta cần cân nhắc điều chỉnh lộ
trình thời gian sao cho phù hợp, đảm bảo vừa chuyển dịch năng lượng theo hướng
xanh, vừa giữ vững an ninh năng lượng quốc gia”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84206">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/b9f0ce6340c8401390646cad7157e806-84206.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84207" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/0440e11a35dc434da227be5e8692d688-84207.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Cuộc xung đột hiện nay không chỉ là một vấn đề địa chính trị
mà còn trực tiếp tạo ra áp lực tài chính nặng nề lên mọi thành phần kinh tế, từ
doanh nghiệp đến người dân. </p>
<p class="text-justify">Cụ thể, cuộc xung đột đẩy nhanh tốc độ tăng lãi suất của
chúng ta lên rất mạnh. Theo tính toán, với tổng dư nợ của toàn nền kinh tế vào
khoảng 18 triệu tỷ đồng, chỉ cần lãi suất tăng thêm 1% mỗi năm, thì mỗi tháng
các đối tượng vay vốn (đặc biệt là doanh nghiệp và người đầu tư bất động sản)
phải chi trả thêm từ 30 đến 35 nghìn tỷ đồng. Nếu tình trạng lãi suất cao duy
trì suốt cả năm 2026, tổng chi phí lãi vay phát sinh có thể chạm ngưỡng 300 đến
400 nghìn tỷ đồng vào cuối năm. Đây được coi là một con số “khổng lồ”, bào mòn
lợi nhuận và nguồn lực tái đầu tư của doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Tiếp theo là chi phí đối với tỷ giá hối đoái. Chỉ trong 3
tháng đầu năm 2026, tỷ giá USD đã tăng 2,1%, trong đó có 1,4% là do tác động kể
từ khi xung đột Trung Đông nổ ra. Với kim ngạch xuất khẩu 122 tỷ USD trong quý
1/2026, tỷ giá tăng giúp các doanh nghiệp xuất khẩu hưởng lợi khoảng 2,5 tỷ USD,
nhưng ở chiều ngược lại, các nhà nhập khẩu phải chi thêm khoảng 2,6 tỷ USD.</p>
<p class="text-justify">Nền kinh tế Việt Nam nhập khẩu rất nhiều nguyên vật liệu,
máy móc để phục vụ chính việc chế biến và xuất khẩu. Do đó, cái lợi từ tỷ giá
không thể bù đắp được chi phí đầu vào tăng cao, biến đây trở thành một gánh nặng
khác đối với nền kinh tế.</p>
<p class="text-justify">Một chi phí nữa là tiêu thụ xăng dầu của Việt Nam. Nếu nhìn
toàn bộ nền kinh tế, con số này cũng rất đáng kể. Năm 2025, chúng ta nhập khoảng
26 đến 28 triệu m3/tấn xăng dầu. Tính riêng từng tháng, phải nhập khoảng 2,2
triệu m3/tấn. Nếu lấy chi phí bình quân của Petrolimex thì con số 2,2 triệu này
trước khi cuộc xung đột xảy ra, tổng chi phí để nhập số hàng này là khoảng 50
nghìn tỷ đồng (xấp xỉ 2 tỷ USD).</p>
<p class="text-justify">Như vậy, chỉ cần giá xăng dầu tăng thêm 10%, nền kinh tế phải
gánh thêm 5.000 tỷ đồng mỗi tháng. Tương tự, với mức tăng 20% và 30%, chi phí
phát sinh sẽ tương ứng ở mức 10.000 tỷ đồng và 15.000 tỷ đồng. Tính chung cả
năm, với mức giá xăng dầu này, nền kinh tế chúng ta sẽ tăng chi phí khoảng 150.000
tỷ đồng. Tổng hợp các con số trên cho thấy tổng chi phí phát sinh đối với nền
kinh tế Việt Nam do tác động của cuộc xung đột này có thể khoảng 40 đến 50 tỷ
USD. Con số này tương đương với khoảng 8 - 10% GDP của chúng ta trong năm nay.</p>
<p class="text-justify">Những tác động này sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến mục tiêu tăng
trưởng, động cơ tiêu dùng và ý định đầu tư. Vì vậy tôi khuyến nghị cần sớm có
các biện pháp đảm bảo an ninh năng lượng và hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua “cơn
bão” chi phí này, giảm thiểu rủi ro cho nền kinh tế”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="84208">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/326c1788655d4cd695d840a079244f27-84208.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 10">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ các bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026 phát hành ngày 20/04/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại<a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-9-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-10-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-10-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-13-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <i><b><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"> </a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.html</a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-14-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a></b></i></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="84124">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/81a83289f0b54b5aad50c64001f68cf6-84124.png" alt="Củng cố “lá chắn” năng lượng quốc gia  - Ảnh 11">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026</title><description>Mời qu#253; độc giả đ#243;n đọc Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam số 16-2026 ph#225;t h#224;nh ng#224;y 20/04/2025 với nhiều chuy#234;n mục hấp dẫn...</description><pubDate>Sun, 19 Apr 2026 01:08:00 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.htm</guid><atom:link href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-16-2026.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/18/1207c59bd4dc420b8078efc186fa5624-84164.jpg?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Mời quý độc giả đón đọc Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 16-2026 phát hành ngày 20/04/2025 với nhiều chuyên mục hấp dẫn...</h2><p class="text-justify">Bạn đọc thân mến,</p>
<p class="text-justify">Sức nóng vật lý của cuộc chiến ở Trung Đông trong hơn 50 ngày qua đã làm gia tăng “cơn khát” năng lượng toàn cầu, buộc các nền kinh tế phải điều chỉnh chiến lược an ninh năng lượng.</p>
<p class="text-justify">Việt Nam từ rất lâu đã luôn chú ý bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Gần đây nhất là hai nghị quyết của Bộ Chính trị về vấn đề này: Nghị quyết số 55-NQ/TW, ban hành ngày 11/2/2020 về định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; Nghị quyết số 70-NQ/TW, ban hành ngày 20/8/2025, về bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Nghị quyết 70 xác định mục tiêu tổng quát đến năm 2030 là “bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp năng lượng đầy đủ, ổn định, chất lượng cao, giảm phát thải cho phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống người dân, bảo vệ môi trường sinh thái. Từng bước chuyển đổi năng lượng đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước và cam kết quốc tế”.</p>
<p class="text-justify">Đó là các định hướng quan trọng để phát triển và bảo đảm an ninh năng lượng cho đất nước, cả trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, khi cuộc xung đột quân sự ở Trung Đông làm thay đổi diện mạo bản đồ nguồn cung năng lượng thế giới, tạo ra cuộc khủng hoảng năng lượng lớn chưa từng có trong nhiều thập kỷ qua, Việt Nam cũng như hầu hết các quốc gia khác phải thực hiện khẩn cấp các giải pháp trước mắt, nhằm duy trì và giữ ổn định “mạch đập” của nền kinh tế.  </p>
<p class="text-justify">Ở tầm vĩ mô, Đảng và Nhà nước ta đã phản ứng rất kịp thời, nhanh chóng chỉ đạo thực hiện linh hoạt và có hiệu quả tức thì các chính sách bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, trước mắt là bảo đảm ổn định các hoạt động kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh.</p>
<p class="text-justify">Hợp tác quốc tế để góp phần giải quyết cuộc khủng hoảng năng lượng hiện nay là một trong những lựa chọn đúng hướng. Tham dự và phát biểu tại Hội nghị Thượng đỉnh trực tuyến Cộng đồng phát thải ròng bằng 0 châu Á (AZEC) mở rộng về tự chủ năng lượng, do Nhật Bản tổ chức ngày 15/4/2026, theo lời mời của Thủ tướng Nhật Bản Takaichi Sanae, Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng đề xuất 3 định hướng hợp tác quan trọng để giải quyết các vấn đề năng lượng và duy trì chuỗi cung ứng, trong đó nhấn mạnh tăng cường hợp tác và phối hợp chính sách giữa các nước nhằm đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, thuận lợi hóa thương mại và duy trì ổn định, thông suốt các chuỗi cung ứng.</p>
<p class="text-justify">Góp phần “giải bài toán” an ninh năng lượng của Việt Nam trước “cú sốc” Hormuz, ngày 17/4/2026, Tạp chí Kinh tế Việt Nam/Vneconomy đã tổ chức tọa đàm về các giải pháp ứng phó của Việt Nam, trong đó tập trung phân tích những tác động trực tiếp và gián tiếp từ cuộc xung đột tại Trung Đông đối với nguồn cung năng lượng của Việt Nam, nhất là đánh giá mức độ phụ thuộc của Việt Nam vào nguồn dầu thô nhập khẩu từ khu vực Trung Đông; phân tích ảnh hưởng của giá dầu thế giới đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI), lạm phát, chi phí sản xuất tại Việt Nam; phân tích khả năng rủi ro đối với các doanh nghiệp hạ nguồn (lọc hóa dầu) khi nguồn cung nguyên liệu đầu vào bị gián đoạn; đồng thời, đề xuất các giải pháp, như: điều tiết và điều chỉnh cấu trúc thị trường xăng dầu trong nước (bổ sung nguồn cung xăng sinh học E10), xây dựng và nâng cao năng lực dự trữ dầu mỏ, xăng dầu quốc gia để đối phó với các tình huống khẩn cấp trong ngắn hạn, trung hạn và dài hạn...</p>
<p class="text-justify">Để bạn đọc có thêm thông tin cập nhật về vấn đề an ninh năng lượng cho Việt Nam trong tình hình nguồn cung thế giới bị “nghẽn” ở Trung Đông, Tạp chí Kinh tế Việt Nam số ra tuần này tập trung cho tiêu điểm “Cú sốc Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam”.</p>
<p class="text-justify">Xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc. </p>
<p style='text-align:right;'><em>-Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>[Trực tiếp] Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam</title><description>Tọa đ#224;m: “C#250; sốc” Hormuz: B#224;i to#225;n an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức v#224; ph#225;t livestream tr#234;n nền tảng 6pg88vn.com, FanPage VnEconomy v#224;o l#250;c 09h00 ng#224;y 17/4/2026...</description><pubDate>Fri, 17 Apr 2026 01:56:49 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/truc-tiep-toa-dam-cu-soc-hormuz-bai-toan-an-ninh-nang-luong-cho-viet-nam.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/truc-tiep-toa-dam-cu-soc-hormuz-bai-toan-an-ninh-nang-luong-cho-viet-nam.htm</guid><atom:link href="/truc-tiep-toa-dam-cu-soc-hormuz-bai-toan-an-ninh-nang-luong-cho-viet-nam.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/16/5520e4da5e5745be991af1b54fc2f995-83664.jpg?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Tọa đàm: “Cú sốc” Hormuz: Bài toán an ninh năng lượng cho Việt Nam do Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy tổ chức và phát livestream trên nền tảng 6pg88vn.com, FanPage VnEconomy vào lúc 09h00 ngày 17/4/2026...</h2><p class="text-justify">Tọa đàm sẽ tập trung vào 4 nội dung chính:</p>
<p class="text-justify"><b>Thứ nhất:</b> Phân
tích bối cảnh và tầm quan trọng của Eo biển Hormuz.</p>
<p class="text-justify">Nhận diện rủi ro: Cung cấp cái nhìn về vị thế của eo biển
Hormuz – “yết hầu” năng lượng thế giới, nơi lưu thông khoảng 20-30% lượng dầu
thô toàn cầu.</p>
<p class="text-justify"><b>Thứ hai:</b> Phân
tích những tác động trực tiếp và gián tiếp đến Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">An ninh nguồn cung: Đánh giá mức độ phụ thuộc của Việt Nam
vào nguồn dầu thô nhập khẩu từ khu vực Trung Đông.</p>
<p class="text-justify">Biến động kinh tế vĩ mô: Phân tích sự ảnh hưởng của giá dầu
thế giới đến chỉ số giá tiêu dùng (CPI), lạm phát, chi phí sản xuất tại Việt
Nam.</p>
<p class="text-justify">Chuỗi cung ứng: Phân tích các rủi ro đối với các doanh nghiệp
hạ nguồn (lọc hóa dầu) khi nguyên liệu đầu vào bị gián đoạn.</p>
<p class="text-justify"><b>Thứ ba:</b> Chuyển đổi từ xăng khoáng truyền thống
sang xăng sinh học E10.</p>
<p class="text-justify">Tập trung phân tích, đánh giá sự cần thiết của việc đẩy mạnh
chuyển đổi từ xăng khoáng truyền thống sang xăng sinh học E10 nhằm giảm phụ thuộc vào dầu mỏ và xăng khoáng
nhập khẩu, đồng thời<b> </b>giúp hệ thống
năng lượng trở nên linh hoạt và tự chủ hơn trước các cú sốc thị trường quốc tế.</p>
<p class="text-justify"><b>Thứ tư:</b> Tập trung
đánh giá, phân tích và đưa ra các giải pháp về việc xây dựng và nâng cao năng lực
dự trữ dầu mỏ, xăng dầu quốc gia để đối phó với các tình huống khẩn cấp trong
ngắn hạn, trung hạn và dài hạn.</p>
<p class="text-justify">Tọa đàm sẽ có sự tham gia của các chuyên gia: </p>
<p class="text-justify">- <b>Ông Nguyễn
Anh Tuấn,</b> Trưởng phòng quản lý kinh doanh xăng dầu và khí, Cục Quản lý và
Phát triển thị trường trong nước, Bộ Công Thương</p>
<p class="text-justify">- <b>Ông Bùi
Ngọc Bảo,</b> Chủ tịch Hiệp hội Xăng dầu Việt Nam. </p>
<p class="text-justify">- <b>PGS.TS.
Phạm Hoàng Lương,</b> Giảng viên cao cấp Đại học Bách khoa Hà Nội, Phó Chủ tịch
Hiệp hội Năng lượng sạch Việt Nam. </p>
<p class="text-justify">- <b>Ông Nguyễn
Xuân Hùng,</b> Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Xăng dầu Việt Nam. </p>
<p class="text-justify">- <b>Nhà báo Ngô Xuân Vũ</b>,
Phó Tổng thư ký Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, điều hành buổi tọa đàm.</p>
<p class="text-justify">Trân trọng kính mời quý độc giả theo dõi!</p>
<p style='text-align:right;'><em>-Tạp chí Kinh tế Việt Nam/Vneconomy</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Quản trị dữ liệu để vượt qua rào cản phòng vệ thương mại</title><description>Trao đổi với Tạp ch#237; Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, #244;ng Chu Thắng Trung, Ph#243; Cục trưởng Cục Ph#242;ng vệ thương mại (Bộ C#244;ng Thương), khẳng định: “Để kh#244;ng bị loại khỏi cuộc chơi, doanh nghiệp buộc phải từ bỏ tư duy ‘đến đ#226;u đỡ đến đấy’ v#224; bắt đầu đầu tư thực chất v#224;o năng lực quản trị dữ liệu để tự bảo vệ m#236;nh”.</description><pubDate>Thu, 16 Apr 2026 00:00:00 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/quan-tri-du-lieu-de-vuot-qua-rao-can-phong-ve-thuong-mai.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/quan-tri-du-lieu-de-vuot-qua-rao-can-phong-ve-thuong-mai.htm</guid><atom:link href="/quan-tri-du-lieu-de-vuot-qua-rao-can-phong-ve-thuong-mai.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/c9e4ecaf2726449cbeb03cccac97dd0e-83144.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Trao đổi với Tạp chí Kinh tế Việt Nam/VnEconomy, ông Chu Thắng Trung, Phó Cục trưởng Cục Phòng vệ thương mại (Bộ Công Thương), khẳng định: “Để không bị loại khỏi cuộc chơi, doanh nghiệp buộc phải từ bỏ tư duy ‘đến đâu đỡ đến đấy’ và bắt đầu đầu tư thực chất vào năng lực quản trị dữ liệu để tự bảo vệ mình”.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="83135" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/5ed0976dd5f14892a0aebac469da3ab9-83135.png" alt="Quản trị dữ liệu để vượt qua rào cản phòng vệ thương mại - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83136" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/9552d118d6a34bfeabdd240e14a95456-83136.png" alt="Quản trị dữ liệu để vượt qua rào cản phòng vệ thương mại - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Trong những năm gần
đây, số lượng các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng hóa xuất khẩu
của Việt Nam có xu hướng gia tăng rõ rệt. Ông có thể phác thảo bức tranh toàn cảnh
hiện nay, đâu là những nhóm mặt hàng nằm trong “vùng đỏ” có nguy cơ cao nhất
trong năm 2026?</i></b></p>
<p class="text-justify">Có thể khẳng
định, sự gia tăng các vụ việc điều tra phòng vệ thương mại đối với hàng xuất khẩu
của Việt Nam hiện nay đã trở thành một đặc điểm mang tính cấu trúc, chứ không
còn là hiện tượng nhất thời. Khi quy mô xuất khẩu của chúng ta tăng nhanh, độ mở
lớn và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thì tần suất bị điều tra
cũng tăng tỷ lệ thuận theo đó.</p>
<p class="text-justify">Tính đến đầu
năm 2026, hàng xuất khẩu của Việt Nam đã phải đối mặt với khoảng 300 vụ việc điều
tra phòng vệ thương mại từ 25 thị trường. Riêng năm 2025, chúng ta ghi nhận 23
vụ việc từ 12 thị trường nhắm vào hàng hóa Việt Nam. Các thị trường khởi xướng
điều tra nhiều và thường xuyên là Hoa Kỳ, Ấn Độ, Mexico, Canada, Liên minh châu
Âu, Úc, Malaysia và Thái Lan. Trong đó, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường giám sát
rất chặt chẽ, không chỉ ở các vụ chống bán phá giá truyền thống mà còn mở rộng
sang các biện pháp chống lẩn tránh, gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp
pháp.</p>
<p class="text-justify">Về ngành
hàng, nhóm có rủi ro cao nhất trong năm 2026 vẫn là thép, nhôm, gỗ và sản phẩm
gỗ, vật liệu xây dựng, cùng một số sản phẩm công nghiệp chế tạo. Đây đều là những
ngành có kim ngạch lớn, tăng trưởng nhanh và gắn liền với các chuỗi cung ứng
toàn cầu phức tạp. Áp lực phòng vệ thương mại chắc chắn sẽ tiếp tục duy trì ở mức
cao trong thời gian tới.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83137" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/4495c3e710544ce285d1a90abd3f5bed-83137.png" alt="Quản trị dữ liệu để vượt qua rào cản phòng vệ thương mại - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Bên cạnh những yếu tố
khách quan từ thị trường quốc tế, đâu là những nguyên nhân chủ quan từ phía nội
tại doanh nghiệp khiến hàng hóa của Việt Nam dễ rơi vào “tầm ngắm” của các vụ
kiện, thưa ông?</i></b></p>
<p class="text-justify">Qua thực tế
theo dõi, chúng tôi nhận thấy có ba nguyên nhân chủ quan cốt lõi.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> tình trạng tăng trưởng xuất khẩu
quá nhanh vào một thị trường trong thời gian ngắn, đặc biệt khi giá bán giảm thấp
hoặc thị phần tăng đột biến. Đối với cơ quan điều tra nước ngoài, đây thường là
tín hiệu để họ xem xét khả năng có hành vi bán phá giá hoặc gây thiệt hại cho
ngành sản xuất nội địa của họ.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> năng lực quản trị hồ sơ, dữ liệu kế
toán, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ chuỗi cung ứng của không ít doanh nghiệp
còn hạn chế. Khi bị yêu cầu cung cấp dữ liệu về giá thành, chi phí, cấu trúc
giao dịch, xuất xứ nguyên liệu, tỷ lệ nội địa hóa hay quan hệ liên kết, nhiều
doanh nghiệp chuẩn bị không kịp, số liệu thiếu nhất quán hoặc không đáp ứng
đúng chuẩn mà cơ quan điều tra yêu cầu.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba,</i> tư duy “làm thị trường trước, xử
lý rủi ro sau” của một bộ phận doanh nghiệp. Doanh nghiệp thường chưa coi phòng
vệ thương mại là một nội dung quản trị rủi ro bắt buộc. Doanh nghiệp ký hợp đồng
xuất khẩu nhưng chưa đánh giá đầy đủ về nguy cơ pháp lý của thị trường, chưa
theo dõi các mặt hàng tương tự đang bị áp thuế với nước thứ ba và chưa xây dựng
hệ thống lưu trữ chứng từ đủ mạnh để sẵn sàng giải trình. Chính những khoảng trống
đó khiến doanh nghiệp dễ rơi vào thế bị động khi có vụ việc phát sinh. Trong bối
cảnh các nước gia tăng giám sát thương mại, năng lực tuân thủ thực chất đã trở
thành một phần của năng lực cạnh tranh.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83138" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/446a7d8578b54098aaf4f183b63639ce-83138.png" alt="Quản trị dữ liệu để vượt qua rào cản phòng vệ thương mại - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Một trong những cáo
buộc gây thiệt hại nặng nề cho uy tín hàng Việt là “lẩn tránh biện pháp phòng vệ
thương mại”. Cục Phòng vệ thương mại đã triển khai hệ thống cảnh báo sớm như thế
nào để bảo vệ doanh nghiệp trước các vụ kiện “liên đới” này?</i></b></p>
<p class="text-justify">Đây là một
trọng tâm lớn của Cục trong những năm qua. Hệ thống cảnh báo sớm của chúng tôi
hiện nay đã chuyển từ tư duy bị động sang tư duy quản trị rủi ro chuỗi cung ứng.
Chúng tôi đã triển khai hệ thống cảnh báo sớm đối với các mặt hàng có nguy cơ bị
điều tra hoặc bị xem xét về hành vi lẩn tránh biện pháp phòng vệ thương mại,
gian lận xuất xứ và chuyển tải bất hợp pháp.</p>
<p class="text-justify">Hệ thống
này được xây dựng theo hướng định kỳ cảnh báo các nhóm sản phẩm và thị trường
có rủi ro cao, đồng thời cập nhật danh mục cảnh báo để doanh nghiệp theo dõi.
Trước đây, Cục đã từng cảnh báo định kỳ đối với khoảng 30 nhóm sản phẩm tại các
thị trường. Hiện nay, việc cảnh báo tiếp tục được cập nhật thông qua các thông
báo chuyên đề và Bản tin Phòng vệ thương mại và Cảnh báo sớm hàng tuần của Cục.</p>
<p class="text-justify">Điểm quan
trọng là cảnh báo hiện không chỉ dừng ở việc “nêu tên mặt hàng” mà đi kèm cả
các dấu hiệu rủi ro cụ thể. Cơ quan quản lý cũng lưu ý rất rõ nguy cơ khi doanh
nghiệp sử dụng nguyên liệu hoặc cấu phần chính nhập khẩu từ các thị trường đang
bị áp thuế, rồi gia công tại Việt Nam để xuất sang thị trường thứ ba.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh cảnh
báo, chúng tôi phối hợp chặt chẽ với các hiệp hội, các thương vụ Việt Nam ở nước
ngoài và cộng đồng doanh nghiệp để tập huấn về cách lưu trữ hồ sơ truy xuất, rà
soát nguồn nguyên liệu và chuẩn hóa chứng từ xuất xứ. Qua đó, giúp doanh nghiệp
chủ động phòng ngừa từ sớm. Mục tiêu không chỉ là xử lý khi vụ việc xảy ra, mà
còn hỗ trợ doanh nghiệp tự phòng ngừa và tránh bị cuốn vào các vòng xoáy điều
tra “liên đới” ngay từ đầu.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83139" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/dd4f0bec0a69483c8d1035a1e7beb40e-83139.png" alt="Quản trị dữ liệu để vượt qua rào cản phòng vệ thương mại - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Từ góc độ cơ quan quản
lý, ông đánh giá như thế nào về năng lực ứng phó với các vụ kiện phòng vệ
thương mại của doanh nghiệp Việt Nam hiện nay? Đâu là điểm yếu lớn nhất của
doanh nghiệp khi làm việc với cơ quan điều tra nước ngoài?</i></b></p>
<p class="text-justify">Năng lực ứng
phó của doanh nghiệp Việt Nam đã được cải thiện đáng kể so với trước đây. Ngày
càng có nhiều doanh nghiệp hiểu rằng phòng vệ thương mại không phải là chuyện
“xa vời”, mà là một phần của hoạt động xuất khẩu. Một số ngành hàng lớn đã chủ
động phối hợp với hiệp hội, thuê tư vấn pháp lý, tổ chức đầu mối dữ liệu và
tham gia trả lời bản câu hỏi tương đối bài bản. Cục Phòng vệ thương mại cũng
thường xuyên đồng hành, hỗ trợ xử lý vụ việc cùng các doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên,
điểm yếu lớn nhất của nhiều doanh nghiệp vẫn là thiếu hệ thống dữ liệu chuẩn
hóa và thiếu tính nhất quán trong giải trình. Trong các vụ điều tra, cơ quan nước
ngoài thường yêu cầu bộ dữ liệu rất chi tiết, từ chi phí sản xuất, chi phí bán
hàng, giao dịch xuất khẩu, giao dịch nội địa, cơ cấu cổ đông, quan hệ liên kết
đến nguồn gốc nguyên liệu. Nếu doanh nghiệp trả lời chậm, số liệu mâu thuẫn hoặc
không chứng minh được bằng chứng từ gốc, cơ quan điều tra có thể sử dụng các dữ
liệu sẵn có theo hướng bất lợi cho doanh nghiệp. Khi đó, hệ quả thường là biên
độ thuế rất cao. Đây là rủi ro mang tính kỹ thuật nhưng lại quyết định gần như
toàn bộ kết quả của vụ việc.</p>
<p class="text-justify">Ngoài ra,
một hạn chế khác là nhiều doanh nghiệp vẫn chưa duy trì được cơ chế phối hợp nội
bộ giữa các bộ phận xuất khẩu, kế toán, sản xuất, pháp chế và mua hàng. Trong
khi đó, một vụ việc phòng vệ thương mại thực chất là bài kiểm tra tổng hợp về
quản trị doanh nghiệp. Do vậy, nếu chỉ giao cho một bộ phận xử lý thì rất khó
theo đuổi đến cùng.</p>
<p class="text-justify">Chúng tôi
cho rằng trong giai đoạn tới, doanh nghiệp nào coi việc chuẩn bị dữ liệu và
tuân thủ là “hạ tầng xuất khẩu” thì doanh nghiệp đó sẽ có sức chống chịu tốt
hơn.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83141" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/cc84255e31f14aa2bc337ab95e226525-83141.png" alt="Quản trị dữ liệu để vượt qua rào cản phòng vệ thương mại - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Từ thực tế thành bại
của các ngành hàng trước các rào cản phòng vệ thương mại, ông có thể chia sẻ một
ví dụ thành công điển hình gần đây và bài học cốt lõi từ sự phối hợp giữa Cục với
doanh nghiệp là gì?</i></b></p>
<p class="text-justify">Một ví dụ
tích cực gần đây là vụ việc Úc chấm dứt điều tra và không áp thuế chống bán phá
giá đối với sản phẩm thép cốt bê tông cán nóng dạng thanh của Việt Nam.</p>
<p class="text-justify">Theo thông
tin công bố chính thức, ngày 16/12/2025, Ủy ban Chống bán phá giá Úc đã ban
hành thông báo chấm dứt một phần điều tra đối với Việt Nam và không áp thuế đối
với sản phẩm này. Đây là kết quả rất đáng chú ý trong bối cảnh nhiều thị trường
đang siết chặt điều tra đối với các sản phẩm kim loại và thép.</p>
<p class="text-justify">Từ góc độ
quản lý nhà nước, bài học cốt lõi ở đây là khi doanh nghiệp hợp tác đầy đủ,
cung cấp thông tin minh bạch, đúng thời hạn và có chiến lược theo đuổi vụ việc
ngay từ sớm, thì khả năng đạt được kết quả tích cực là hoàn toàn có cơ sở.</p>
<p class="text-justify">Thực tiễn
cho thấy cơ quan điều tra nước ngoài, nhất là ở những thị trường có quy trình
minh bạch, vẫn xem xét rất kỹ dữ liệu và lập luận do doanh nghiệp, hiệp hội và
cơ quan quản lý cung cấp. Nói cách khác, kết quả không chỉ phụ thuộc vào bối cảnh
chính sách, mà còn phụ thuộc rất lớn vào chất lượng hợp tác và năng lực chứng
minh của phía Việt Nam.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83142" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/d429eade8acf4ffeb7b814d623799a08-83142.png" alt="Quản trị dữ liệu để vượt qua rào cản phòng vệ thương mại - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Vậy theo ông, các hiệp
hội và doanh nghiệp cần thay đổi tư duy quản trị, chuỗi cung ứng và chiến lược
giá như thế nào để chủ động giảm thiểu rủi ro bị điều tra phòng vệ thương mại
trong tương lai?</i></b></p>
<p class="text-justify">Theo chúng
tôi, điều quan trọng nhất là phải chuyển từ tư duy “xử lý vụ việc” sang tư duy
“quản trị rủi ro phòng vệ thương mại”. Điều này có nghĩa là ngay từ khi xây dựng
kế hoạch xuất khẩu, doanh nghiệp phải xem xét cả yếu tố pháp lý của thị trường,
diễn biến điều tra đối với các sản phẩm tương tự, mức độ phụ thuộc vào một thị
trường, cơ cấu nguồn nguyên liệu và khả năng bị nghi ngờ lẩn tránh. Nếu xuất khẩu
tăng quá nhanh vào một thị trường hoặc phụ thuộc quá lớn vào một nhóm khách
hàng, rủi ro sẽ tăng lên đáng kể.</p>
<p class="text-justify"><i>Về chuỗi cung ứng,</i> doanh nghiệp cần đầu tư mạnh hơn
cho truy xuất nguồn gốc, minh bạch hóa nguyên liệu đầu vào, nâng tỷ lệ nội địa
hóa thực chất và sàng lọc đối tác cung ứng. Trong bối cảnh các vụ việc chống lẩn
tránh ngày càng gia tăng, “sản xuất tại Việt Nam” không chỉ là nhãn mác mà phải
được chứng minh bằng dữ liệu, quy trình và giá trị gia tăng thực chất.</p>
<p class="text-justify"><i>Về chiến lược giá,</i> doanh nghiệp cũng không nên theo
đuổi cạnh tranh bằng giá thấp bằng mọi giá. Trong nhiều trường hợp, giá xuất khẩu
giảm quá thấp, tăng trưởng quá nhanh nhưng hồ sơ chi phí không đủ mạnh sẽ dễ tạo
điều kiện cho nguyên đơn nước ngoài khởi kiện. Do đó, cần chuyển sang cạnh
tranh bằng chất lượng, tiêu chuẩn, tiến độ giao hàng, dịch vụ và độ tin cậy,
thay vì chỉ cạnh tranh bằng giá.</p>
<p class="text-justify">Đồng thời,
các hiệp hội cần đóng vai trò đầu mối hơn nữa trong việc chia sẻ dữ liệu ngành,
phổ biến cảnh báo sớm, tổ chức tập huấn và kết nối doanh nghiệp với cơ quan quản
lý. Khi doanh nghiệp, hiệp hội và cơ quan nhà nước hình thành được cơ chế phối
hợp thường xuyên, bài bản, thì năng lực phòng vệ của toàn ngành sẽ được nâng
cao.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83143" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/e9ddad3842d14c1d9c1d57c7fecb0d46-83143.png" alt="Quản trị dữ liệu để vượt qua rào cản phòng vệ thương mại - Ảnh 8">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 15-2026 phát hành ngày 13/04/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại <a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-9-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-10-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-10-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-15-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a>: </i></b></p>
<p class="text-justify"><b><i></i></b>Link: <b><i><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-15-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-15-2026.htm</a></i></b></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="82434">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/11/f8ba3aa39fb343a0aa5c4c052f283de5-82434.png" alt="Quản trị dữ liệu để vượt qua rào cản phòng vệ thương mại - Ảnh 9">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Quý 1/2026: Nền kinh tế vượt qua “cơn gió ngược”</title><description>Trước những “cơn gi#243; ngược” từ rủi ro đứt g#227;y chuỗi cung ứng, nhiệm vụ quan trọng h#224;ng đầu trong qu#253; 2/2026 l#224; phải bảo đảm bằng được nguồn cung đầu v#224;o, ổn định an ninh năng lượng v#224; logistics, đồng thời theo d#245;i s#225;t diễn biến cầu thế giới để c#243; phản ứng ch#237;nh s#225;ch ph#249; hợp.</description><pubDate>Wed, 15 Apr 2026 08:06:17 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/quy-12026-nen-kinh-te-vuot-qua-con-gio-nguoc.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/quy-12026-nen-kinh-te-vuot-qua-con-gio-nguoc.htm</guid><atom:link href="/quy-12026-nen-kinh-te-vuot-qua-con-gio-nguoc.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/6cb1c8d909ae4b64a09eddd8862c8123-83123.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Trước những “cơn gió ngược” từ rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, nhiệm vụ quan trọng hàng đầu trong quý 2/2026 là phải bảo đảm bằng được nguồn cung đầu vào, ổn định an ninh năng lượng và logistics, đồng thời theo dõi sát diễn biến cầu thế giới để có phản ứng chính sách phù hợp.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="83115">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/c3bac651a5614378830ced4e23bd4e96-83115.png" alt="Quý 1/2026: Nền kinh tế vượt qua “cơn gió ngược” - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83116" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/736b75b699ce4fc1bdce643d5a0812d2-83116.png" alt="Quý 1/2026: Nền kinh tế vượt qua “cơn gió ngược” - Ảnh 2">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Kết quả tăng trưởng GDP quý 1/2026 là khá tích cực trong bối cảnh kinh
tế thế giới có nhiều biến động khó lường. Theo bà, động lực tăng trưởng hiện tại
đến từ những yếu tố nào?</i></b></p>
<p class="text-justify">Kết quả tăng trưởng GDP ước đạt 7,83% trong quý 1/2026 thực
sự là một tín hiệu phản ánh những nỗ lực rất lớn trong công tác điều hành kinh
tế vĩ mô và tinh thần vượt khó của toàn xã hội. Đáng chú ý là sự tăng trưởng
khá đồng đều ở cả ba khu vực trọng yếu: nông, lâm nghiệp và thủy sản tăng 3,58%;
công nghiệp và xây dựng tăng 8,92%; dịch vụ tăng 8,18%.</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, khi bóc tách chi tiết cấu trúc tăng trưởng này từ
cả phía cung và phía cầu, bức tranh kinh tế hiện ra với nhiều mảng màu đan xen,
có điểm sáng nhưng vẫn bộc lộ sự thiếu đồng đều.</p>
<p class="text-justify">Nhìn từ phía cung, động lực vẫn đang tập trung mạnh vào một
số ngành chủ lực, trong khi nhiều khu vực khác chưa có sự phục hồi tương xứng.
Cụ thể, nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục khẳng định vai trò là “trụ đỡ” ổn
định của nền kinh tế. Trong khi đó, công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục đóng
vai trò là “đầu tàu” dẫn dắt khi đạt mức tăng trưởng ấn tượng 9,73%, đóng góp lớn
nhất (2,57 điểm phần trăm) vào mức tăng trưởng chung. </p>
<p class="text-justify">Diễn biến này phản ánh sự phục hồi tích cực của các đơn hàng
xuất khẩu và năng lực sản xuất, đặc biệt tập trung ở các ngành điện tử, dệt may
và sản xuất kim loại. Ngành khai khoáng cũng là một điểm nhấn khi tiếp tục duy
trì đà tăng trưởng dương kể từ quý 4/2025, đạt mức 5,42%.</p>
<p class="text-justify">Ở khu vực dịch vụ, sức cầu nội địa phục hồi được thể hiện
qua mức tăng 9,62% của ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy,
đóng góp 1,15 điểm phần trăm. Một diễn biến mang tính cơ cấu đáng mừng là sự
tăng trưởng ổn định của các ngành dịch vụ có hàm lượng tri thức cao như chuyên
môn khoa học, công nghệ, giáo dục, bước đầu cho thấy sự chuyển dịch nền kinh tế
theo hướng chất lượng cao hơn. </p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, nhiều ngành quan trọng lại chưa bứt phá như kỳ vọng:
xây dựng chỉ tăng 8,36%; vận tải kho bãi tăng 8,95%; dịch vụ lưu trú và ăn uống
tăng 7,49%; kinh doanh bất động sản vẫn khá trầm lắng ở mức 4,71%; thông tin,
truyền thông tăng 7,65% và hoạt động hành chính, dịch vụ hỗ trợ tăng 7,06%.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83117" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/b6f16d7030c4474f98c28216da897078-83117.png" alt="Quý 1/2026: Nền kinh tế vượt qua “cơn gió ngược” - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">Nhìn từ phía cầu, tiêu dùng nội địa tiếp tục là điểm sáng
đáng ghi nhận với mức tăng 8,45%. Đặc biệt, tiêu dùng cuối cùng của Nhà nước
tăng vọt 11,66%. Mức tăng này phản ánh xu hướng mở rộng chi ngân sách để phục vụ
các nhiệm vụ chính trị - hành chính cốt lõi, điển hình như công tác tổ chức Đại
hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, bầu cử các cấp, cũng như chi phí ổn định bộ máy
sau quá trình sáp nhập đơn vị hành chính. Khu vực công đang thể hiện rõ vai trò
dẫn dắt trong việc kích thích tổng cầu.</p>
<p class="text-justify">Tiêu dùng cuối cùng của hộ gia đình tăng 7,95%, chủ yếu nhờ
hiệu ứng mùa vụ từ kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài. Đáng chú ý, cơ cấu tiêu dùng
đang có sự dịch chuyển rõ nét theo hướng hiện đại và bền vững, ưu tiên các sản
phẩm thân thiện môi trường (xe điện, thiết bị tiết kiệm năng lượng) và các dịch
vụ trải nghiệm (du lịch, giải trí).</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, tích lũy tài sản tăng 7,18%, cho thấy nỗ lực giải
ngân vốn đầu tư công và mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, hiệu quả đầu tư và tốc độ
lan tỏa vẫn còn hạn chế, chưa tạo đủ “cú hích” mạnh cho các ngành liên quan. Về
khu vực ngoại thương, xuất nhập khẩu tiếp tục tăng mạnh (xuất khẩu tăng 19,1%,
nhập khẩu tăng 27,0%). Trong đó, nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu phản ánh
nhu cầu đầu vào cho sản xuất đang phục hồi, nhưng đồng thời cũng cho thấy một hạn
chế tồn tại nhiều năm của nền kinh tế: giá trị gia tăng trong nước còn mỏng và
nền kinh tế vẫn phụ thuộc lớn vào nguyên vật liệu nhập khẩu.</p>
<p class="text-justify">Nhìn chung, diễn biến kinh tế quý 1/2026 vẫn dựa chủ yếu vào
các động lực truyền thống như sản xuất - xuất khẩu, đầu tư và tiêu dùng nội địa.
Các động lực mới như khoa học công nghệ, kinh tế số đã cải thiện nhưng mới chỉ
đóng vai trò hỗ trợ, chưa đủ lớn để trở thành động lực dẫn dắt thực sự.</p>
<p class="text-justify">Dù mức tăng 7,83% của quý 1/2026 là mức tăng tích cực, nhưng
khoảng cách so với mục tiêu đặt ra cho thấy nội lực chưa thực sự đủ mạnh để bứt
phá. Do vậy, cần nhận diện các nguyên nhân cốt lõi để có giải pháp trong các
quý tiếp theo.</p>
<p class="text-justify">Thứ nhất, biến động địa chính trị tại Trung Đông đẩy giá dầu
và chi phí vận tải lên cao, qua đó làm tăng chi phí sản xuất của doanh nghiệp.
Chi phí đầu vào tăng trong khi sức cầu chưa phục hồi hoàn toàn đã làm thu hẹp
biên lợi nhuận, khiến doanh nghiệp thận trọng hơn trong mở rộng sản xuất, đầu
tư.</p>
<p class="text-justify">Thứ hai, các điểm nghẽn nội tại chưa được xử lý (năng suất
lao động chưa cao, năng lực cạnh tranh doanh nghiệp yếu, môi trường thể chế
chưa đột phá).</p>
<p class="text-justify">Thứ ba, sức mua nội địa phục hồi chậm hơn kỳ vọng (tổng mức
bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng chỉ tăng 10,9% theo giá hiện
hành và khoảng 7% theo giá so sánh), người dân vẫn thắt chặt chi tiêu do lo ngại
lạm phát.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83118" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/a083d8ed5c1f440991aea3e04c24ddd0-83118.png" alt="Quý 1/2026: Nền kinh tế vượt qua “cơn gió ngược” - Ảnh 4">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Đầu tư công luôn được xem là “cỗ xe” kéo tăng trưởng mang tính chiến lược.
Với số liệu giải ngân đạt 133,2 nghìn tỷ đồng trong 3 tháng đầu năm 2026, dòng
vốn này đã tạo ra hiệu ứng lan tỏa đến các nhóm ngành sản xuất và việc làm
trong xã hội như thế nào, thưa bà?</i></b></p>
<p class="text-justify">Ngay từ những ngày đầu năm 2026, Chính phủ, các bộ, ngành và
địa phương đã xác định việc thực hiện và giải ngân vốn đầu tư công là nhiệm vụ
chính trị trọng tâm. Kế hoạch vốn đã được rà soát, phân bổ chi tiết 100%, gắn
chặt với trách nhiệm người đứng đầu theo từng tháng, từng quý.</p>
<p class="text-justify">Kết quả, vốn đầu tư công thực hiện quý 1/2026 ước đạt 133,2
nghìn tỷ đồng, tăng 12,1% so với cùng kỳ năm trước và bằng 14,5% kế hoạch năm.
Tỷ lệ 14,5% chưa đạt như mức kỳ vọng ban đầu là 20%, nhưng điều này hoàn toàn
có thể lý giải bởi các yếu tố mang tính thời vụ. Quý 1 chủ yếu là thời gian thi
công các dự án chuyển tiếp từ năm 2025. Các dự án mới bố trí vốn năm 2026 vẫn
đang trong giai đoạn hoàn tất thủ tục, hồ sơ nên chưa phát sinh khối lượng thực
hiện. Thêm vào đó, kỳ nghỉ Tết Nguyên đán kéo dài 9 ngày trong tháng 2 cũng ảnh
hưởng đến tiến độ thi công chung. Dù vậy, con số 133,2 nghìn tỷ đồng được bơm
vào nền kinh tế đã đóng góp vô cùng quan trọng vào mức tăng trưởng GDP 7,83%.</p>
<p class="text-justify">Về hiệu ứng lan tỏa: việc đẩy nhanh tiến độ thi công, đặc biệt
là tại các dự án hạ tầng giao thông trọng điểm quốc gia ngay từ quý 1, đã tạo
ra một lực kéo trực tiếp, thúc đẩy tiêu thụ mạnh mẽ cho các ngành công nghiệp vật
liệu xây dựng (sắt thép, xi măng, cát, đá, thiết bị cơ khí). Sự nhộn nhịp tại
các đại công trường này không chỉ kích thích hoạt động sản xuất kinh doanh của
các doanh nghiệp xây lắp mà còn giải quyết trực tiếp bài toán việc làm cho lao
động.</p>
<p class="text-justify">Hơn nữa, khi cơ sở hạ tầng, đặc biệt là hạ tầng giao thông
được hoàn thiện, nó sẽ tạo ra một môi trường đầu tư vượt trội. Đây chính là yếu
tố dẫn dắt, kích hoạt các nguồn lực xã hội, thu hút mạnh mẽ vốn đầu tư tư nhân
trong nước và dòng vốn FDI, tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng dài hạn
trong năm 2026 và những năm tiếp theo.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83119" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/d7440031548f4043aa72d1a01dc2b42d-83119.png" alt="Quý 1/2026: Nền kinh tế vượt qua “cơn gió ngược” - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Báo cáo quý 1/2026 cho thấy khu vực doanh nghiệp tiếp tục có nhiều biến
động ở cả số doanh nghiệp thành lập mới và số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường.
Nhìn vào cơ cấu ngành nghề, theo bà, đâu là điểm yếu hiện tại của khu vực kinh
tế tư nhân? </i></b></p>
<p class="text-justify">Dưới góc độ cơ quan thống kê quốc gia, khi phân tích sâu dữ
liệu quý 1/2026, chúng tôi nhìn nhận sự rút lui của hàng chục nghìn doanh nghiệp
không đơn thuần là những con số cơ học. Đó là một bức tranh phản ánh cuộc thanh
lọc khắc nghiệt và quá trình tái cấu trúc sâu sắc của nền kinh tế. Các yếu tố
như cầu yếu, chi phí logistics, đầu vào tăng và thiếu đơn hàng… đều đang hiện hữu,
nhưng đóng vai trò khác nhau tạo nên một “vòng lặp rủi ro” đánh trúng vào “gót
chân Achilles” của khu vực tư nhân.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ nhất,</i> “gót
chân Achilles” hiện nay chính là các ngành nhạy cảm với chuỗi cung ứng. Dẫn đầu
làn sóng rút lui là ngành bán buôn, bán lẻ, sửa chữa ô tô, xe máy với gần 24,6
nghìn doanh nghiệp tạm ngừng và 4,4 nghìn doanh nghiệp giải thể. Tiếp đó là hai
trụ cột cốt lõi: xây dựng (gần 8,6 nghìn tạm ngừng, 819 giải thể) và công nghiệp
chế biến, chế tạo (gần 7,4 nghìn tạm ngừng, hơn 1,25 nghìn giải thể).</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ hai,</i> rào cản từ
sức cầu nội địa phục hồi chậm. Sự cẩn trọng trong chi tiêu của người dân khiến
không gian thị trường bị thu hẹp đáng kể. Theo dữ liệu điều tra xu hướng sản xuất
kinh doanh quý 1/2026, có tới 30,1% doanh nghiệp chế biến, chế tạo phản ánh khó
khăn do nhu cầu thị trường thấp (tăng mạnh so với mức 20,9% của cùng kỳ năm
2025). Cầu yếu dẫn đến mức độ cạnh tranh nội bộ ngành gia tăng khốc liệt, với
48,9% doanh nghiệp đang chịu sức ép lớn từ hàng hóa đối thủ trong nước.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ ba, </i>cú sốc chi
phí đẩy đang tác động tiêu cực trực diện đối với hoạt động sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp. Nếu tổng cầu yếu làm doanh nghiệp “suy giảm thể lực”, thì bão
giá đầu vào chính là “cú đấm” bẻ gãy dòng tiền. Xung đột tại Trung Đông từ cuối
tháng 2/2026 đã đẩy giá dầu Brent vọt lên trên 110 USD/thùng, kéo theo cước vận
tải biển toàn cầu leo thang. Hệ lụy là 27,3% doanh nghiệp chế tạo bị thiếu hụt
nguyên nhiên vật liệu (tăng 7,6 điểm % so với quý trước). </p>
<p class="text-justify">Trong ngành xây dựng, 70,1% nhà thầu khó khăn vì giá nguyên
vật liệu tăng cao. Khi chi phí tăng nhưng không thể tăng giá bán do cầu yếu,
biên lợi nhuận bị ăn mòn, doanh nghiệp buộc phải rút lui để “cắt lỗ”.</p>
<p class="text-justify"><i>Thứ tư,</i> áp lực từ
sự phân hóa đơn hàng và nợ đọng kéo dài. Trong khi khu vực FDI (đặc biệt là điện
tử, quang học) vẫn giữ được đơn hàng ổn định nhờ chu kỳ sản phẩm mới toàn cầu,
thì khu vực doanh nghiệp trong nước lại khó khăn trong tìm kiếm hợp đồng. Đáng
báo động nhất là ngành xây dựng với 44,6% doanh nghiệp thiếu hợp đồng mới, và
25,2% doanh nghiệp đang đứng bên bờ vực khủng hoảng tài chính do tình trạng nợ
đọng xây dựng cơ bản không được thanh quyết toán.</p>
<p class="text-justify">Vì vậy, có thể nói sự rút lui của hàng chục nghìn doanh nghiệp
là hệ quả của tác động kép: sự cộng hưởng của sức cầu nội địa phục hồi chậm
(tác động bên trong) và cú sốc chi phí đẩy từ địa chính trị toàn cầu (tác động
bên ngoài).</p>
<p class="text-justify">Tuy nhiên, thị trường cũng ghi nhận 96 nghìn doanh nghiệp
thành lập mới và quay trở lại hoạt động (tăng 31,7% so với cùng kỳ năm 2025).
Điều này cho thấy nền kinh tế đang trong giai đoạn “phá kén” và thanh lọc. Bài
toán điều hành lúc này không thể chỉ là kích cầu chung chung, mà cần can thiệp
trúng đích: bình ổn năng lượng, khơi thông nợ đọng và hạ nhiệt logistics.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83120" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/505aa149d6f6401ea6c0e0fddd38fd1c-83120.png" alt="Quý 1/2026: Nền kinh tế vượt qua “cơn gió ngược” - Ảnh 6">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Sự thẩm thấu của giá năng lượng toàn cầu và cước vận tải biển đã tác động
đến lạm phát ra sao, thưa bà? Trong bối cảnh này, định hướng kiểm soát CPI thời
gian tới cần những giải pháp cốt lõi nào?</i></b></p>
<p class="text-justify">Xung đột tại Trung Đông leo thang từ cuối tháng 2/2026, do
đó, tác động lên Chỉ số giá sản xuất (PPI) trong quý 1 chưa thực sự bộc lộ rõ
nét trên bình diện rộng, mà mới khu trú ở chi phí vận tải biển và hàng không.
Vì vậy, mức độ lan tỏa trực tiếp sang CPI chung vẫn còn dư địa kiểm soát.</p>
<p class="text-justify">Tính chung quý 1/2026, CPI tăng 3,51% so với cùng kỳ năm
2025. Động lực tăng giá chính đến từ nhóm nhà ở và vật liệu xây dựng (tăng gần
5,7%) và nhóm hàng ăn - dịch vụ ăn uống (tăng 4,5%). Đặc biệt, giá thịt lợn
tăng do chi phí chăn nuôi cao và nguồn cung hạn chế dịp lễ. </p>
<p class="text-justify">Đáng chú ý, lạm phát cơ bản quý 1/2026 tăng 3,63%, nhỉnh hơn
mức tăng CPI chung. Điều này xảy ra do giá lương thực (yếu tố làm giảm CPI
chung trong quý) đã được loại trừ khỏi rổ tính lạm phát cơ bản.</p>
<p class="text-justify">Với diễn biến này, chúng tôi dự báo CPI bình quân năm 2026 sẽ
dao động quanh mức 4,5 - 5,5%. Để neo giữ lạm phát trong mục tiêu, chúng tôi đề
xuất 6 nhóm giải pháp: (i) tính toán kỹ lưỡng lộ trình, mức độ và thời điểm
tăng giá các mặt hàng do Nhà nước quản lý một cách đồng bộ; (ii) theo dõi chặt
diễn biến giá năng lượng thế giới, linh hoạt sử dụng công cụ thuế, phí và Quỹ
bình ổn giá xăng dầu; (iii) chủ động đa dạng hóa nguồn cung hàng hóa chiến lược,
tránh đứt gãy do địa chính trị; (iv) kiểm soát chi phí vận tải nội địa, chống đầu
cơ, tăng giá bất hợp lý; (v) Ngân hàng Nhà nước tiếp tục điều hành chính sách
tiền tệ chủ động, phối hợp nhịp nhàng cùng chính sách tài khóa; (vi) tăng cường
minh bạch thông tin điều hành giá để ổn định kỳ vọng lạm phát của công chúng.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83121" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/aba66bd8c6ae4a4f8098ecf01ebbc47b-83121.png" alt="Quý 1/2026: Nền kinh tế vượt qua “cơn gió ngược” - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Từ những dữ liệu nền tảng của quý 1/2026, theo bà, đâu sẽ là “cơn gió ngược”
nguy hiểm nhất đối với nền kinh tế Việt Nam khi bước sang quý 2/2026?</i></b></p>
<p class="text-justify">Nền kinh tế Việt Nam với độ mở rất lớn luôn phải đối mặt đan
xen giữa rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng nguyên vật liệu nhập khẩu và sự sụt giảm
sức mua từ thị trường xuất khẩu. Tuy nhiên, rủi ro mang tính nguy hiểm và tức
thời nhất trong ngắn hạn (quý 2) chính là khả năng đứt gãy chuỗi cung ứng
nguyên, vật liệu nhập khẩu.</p>
<p class="text-justify">Với đặc thù phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu
(từ linh kiện điện tử, hóa chất, nhựa, đến nguyên phụ liệu dệt may), một cú sốc
đình trệ logistics sẽ ngay lập tức kích hoạt “hiệu ứng dây chuyền” làm gián đoạn
sản xuất, chậm tiến độ đơn hàng, giảm năng lực xuất khẩu và thậm chí ảnh hưởng
đến cả tăng trưởng GDP trong ngắn hạn. Đây là rủi ro mang tính tức thời và trực
diện, có thể làm gián đoạn hoạt động sản xuất ngay lập tức.</p>
<p class="text-justify">Trong khi đó, rủi ro tổng cầu suy giảm từ thị trường Mỹ hay
EU mang tính chu kỳ và có “độ trễ”. Doanh nghiệp vẫn có khoảng thời gian xoay sở
nhất định thông qua việc khai thác các thị trường mới từ các Hiệp định thương mại
tự do (FTA). Tuy nhiên, nếu kéo dài, đây sẽ là yếu tố làm suy giảm tăng trưởng
bền vững của xuất khẩu.</p>
<p class="text-justify">Vì vậy, trong công tác điều hành vĩ mô quý 2/2026, nhiệm vụ
quan trọng hàng đầu là phải bảo đảm được nguồn cung đầu vào, ổn định an ninh
năng lượng và logistics, đồng thời theo dõi sát diễn biến cầu thế giới để có phản
ứng chính sách phù hợp.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="83122" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/14/997b13fc071e4d6ebcad44d555040235-83122.png" alt="Quý 1/2026: Nền kinh tế vượt qua “cơn gió ngược” - Ảnh 8">
</figure>
<p class="text-justify"><b><i>Nội dung đầy đủ bài viết được đăng tải trên Tạp chí Kinh tế Việt Nam số 15-2026 phát hành ngày 13/04/2026. Kính mời Quý độc giả tìm đọc tại <a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-9-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-10-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-10-2026.htm" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-11-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer"></a><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-15-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">đây</a>: </i></b></p>
<p class="text-justify">Link: <b><i><a href="/_premium_/dat-mua/an-pham/tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-15-2026.html" target="_blank" rel="noopener noreferrer">https://6pg88vn.com/don-doc-tap-chi-kinh-te-viet-nam-so-15-2026.htm</a></i></b></p>
<figure class="image detail__image align-center " id="82427">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/11/959d7cde2c984f52b1c2540c370b60a1-82427.png" alt="Quý 1/2026: Nền kinh tế vượt qua “cơn gió ngược” - Ảnh 9">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Tương lai ngành xây dựng gắn liền với phát triển bền vững</title><description>Trong bối cảnh c#244;ng nghiệp hiện nay, m#244;i trường x#226;y dựng l#224; một trong những đ#242;n bẩy r#245; r#224;ng nhất để đạt được mục ti#234;u khử carbon v#224; an ninh năng lượng quốc gia. T#225;c động của lĩnh vực n#224;y rất đ#225;ng kể: hệ thống x#226;y dựng ti#234;u thụ khoảng 32% năng lượng to#224;n cầu v#224; đ#243;ng g#243;p khoảng 34% lượng kh#237; thải CO₂ to#224;n cầu. Ch#237;nh phủ c#225;c nước tr#234;n thế giới đ#227; ban h#224;nh nhiều quy định kh#225;c nhau để khuyến kh#237;ch việc #225;p dụng c#225;c c#244;ng tr#236;nh xanh v#224; vật liệu tiết kiệm năng lượng. Nếu c#225;c ch#237;nh s#225;ch hỗ trợ được duy tr#236; v#224; nhận thức của c#244;ng ch#250;ng tiếp tục l#234;n cao, nhu cầu thị trường x#226;y dựng bền vững dự kiến sẽ tăng tốc đ#225;ng kể trong tương lai gần.</description><pubDate>Fri, 10 Apr 2026 00:27:50 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/tuong-lai-nganh-xay-dung-gan-lien-voi-phat-trien-ben-vung.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/tuong-lai-nganh-xay-dung-gan-lien-voi-phat-trien-ben-vung.htm</guid><atom:link href="/tuong-lai-nganh-xay-dung-gan-lien-voi-phat-trien-ben-vung.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/1059535bd62840fba8e6be456971b370-80910.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Trong bối cảnh công nghiệp hiện nay, môi trường xây dựng là một trong những đòn bẩy rõ ràng nhất để đạt được mục tiêu khử carbon và an ninh năng lượng quốc gia. Tác động của lĩnh vực này rất đáng kể: hệ thống xây dựng tiêu thụ khoảng 32% năng lượng toàn cầu và đóng góp khoảng 34% lượng khí thải CO₂ toàn cầu. Chính phủ các nước trên thế giới đã ban hành nhiều quy định khác nhau để khuyến khích việc áp dụng các công trình xanh và vật liệu tiết kiệm năng lượng. Nếu các chính sách hỗ trợ được duy trì và nhận thức của công chúng tiếp tục lên cao, nhu cầu thị trường xây dựng bền vững dự kiến sẽ tăng tốc đáng kể trong tương lai gần.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="80905" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/df6dd541cbf94601bb0c4b85ae99a79c-80905.png" alt="Tương lai ngành xây dựng gắn liền với phát triển bền vững - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80906" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/d3d29af056dc431bb842b1f20df4a517-80906.png" alt="Tương lai ngành xây dựng gắn liền với phát triển bền vững - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80907" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/825a11558c4140249d3cbdad1cc80f4f-80907.png" alt="Tương lai ngành xây dựng gắn liền với phát triển bền vững - Ảnh 3">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80908" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/25ba7b2f8c8d4f928e9279ac8596e9a8-80908.png" alt="Tương lai ngành xây dựng gắn liền với phát triển bền vững - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80909" data-aos="slide-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/7a10ecce695e4458b030ef852fd14633-80909.png" alt="Tương lai ngành xây dựng gắn liền với phát triển bền vững - Ảnh 5">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu</title><description>Xung đột tại Trung Đ#244;ng c#249;ng đ#224; tăng phi m#227; của gi#225; nhi#234;n liệu đang tạo ra #225;p lực rất lớn l#234;n chuỗi cung ứng to#224;n cầu, đẩy c#225;c doanh nghiệp logistics v#224; xuất khẩu Việt Nam v#224;o thế kh#243;. Việc chi ph#237; vận tải biển tăng 25-35%, ph#237; bảo hiểm leo thang v#224; thời gian giao h#224;ng k#233;o d#224;i kh#244;ng chỉ b#224;o m#242;n lợi nhuận m#224; c#242;n trực tiếp đe dọa sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh “#225;p lực k#233;p” từ chi ph#237; đầu v#224;o v#224; sức mua to#224;n cầu sụt giảm, y#234;u cầu cấp thiết l#224; phải x#226;y dựng được cơ chế hỗ trợ đủ mạnh để n#226;ng cao sức chống chịu cho hệ thống logistics quốc gia.
Tuy nhi#234;n, biến động hiện nay cũng l#224; “ph#233;p thử” quan trọng để s#224;ng lọc năng lực v#224; th#250;c đẩy doanh nghiệp t#225;i cấu tr#250;c. Từ việc chuyển dịch trọng t#226;m sang c#225;c thị trường gần như Trung Quốc, ASEAN đến chiến lược tối ưu h#243;a vận h#224;nh v#224; đẩy mạnh chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp đang nỗ lực t#236;m kiếm lối đi bền vững, sẵn s#224;ng bứt ph#225; khi thị trường hồi phục theo nguy#234;n l#253; “l#242; xo n#233;n”. </description><pubDate>Fri, 10 Apr 2026 00:15:48 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/nang-cao-suc-chong-chiu-cho-logistics-va-xuat-khau.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/nang-cao-suc-chong-chiu-cho-logistics-va-xuat-khau.htm</guid><atom:link href="/nang-cao-suc-chong-chiu-cho-logistics-va-xuat-khau.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/9df4218e2dfa4c90b491d0fbbf94a1d3-80886.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Xung đột tại Trung Đông cùng đà tăng phi mã của giá nhiên liệu đang tạo ra áp lực rất lớn lên chuỗi cung ứng toàn cầu, đẩy các doanh nghiệp logistics và xuất khẩu Việt Nam vào thế khó. Việc chi phí vận tải biển tăng 25-35%, phí bảo hiểm leo thang và thời gian giao hàng kéo dài không chỉ bào mòn lợi nhuận mà còn trực tiếp đe dọa sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh “áp lực kép” từ chi phí đầu vào và sức mua toàn cầu sụt giảm, yêu cầu cấp thiết là phải xây dựng được cơ chế hỗ trợ đủ mạnh để nâng cao sức chống chịu cho hệ thống logistics quốc gia.
Tuy nhiên, biến động hiện nay cũng là “phép thử” quan trọng để sàng lọc năng lực và thúc đẩy doanh nghiệp tái cấu trúc. Từ việc chuyển dịch trọng tâm sang các thị trường gần như Trung Quốc, ASEAN đến chiến lược tối ưu hóa vận hành và đẩy mạnh chuyển đổi số, nhiều doanh nghiệp đang nỗ lực tìm kiếm lối đi bền vững, sẵn sàng bứt phá khi thị trường hồi phục theo nguyên lý “lò xo nén”. </h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="80867">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/18c4db0501a2450987ea55278c9b85a9-80867.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 1">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80868">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/5b65ad8ba45c48ea9b0b44de1eecd3a8-80868.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 2">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80869" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/5ed0064f7aa14121b892306057ce4b28-80869.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 3">
</figure>
<p class="text-justify">“Từ đầu tháng 3/2026, chi phí vận tải biển tăng mạnh từ
25-35%, thời gian vận chuyển hàng nông sản sang châu Âu kéo dài thêm 7-14 ngày
do căng thẳng tại Trung Đông và giá nhiên liệu leo thang. Hệ quả là chi phí sản
xuất nông nghiệp tăng 3-5%, làm suy giảm sức cạnh tranh của hàng hóa Việt Nam.
Khi giá dầu tăng, toàn bộ chuỗi giá trị từ đầu vào đến tiêu thụ đều chịu tác động
dây chuyền, gây áp lực lớn lên doanh nghiệp trong bối cảnh sức mua toàn cầu giảm
sút.</p>
<p class="text-justify">Thực tế, nhiều container trái cây tươi như xoài, thanh long,
sầu riêng phải nằm chờ tại cảng do thay đổi lịch trình, khiến chất lượng giảm
sút và chi phí bảo quản đội lên cao. </p>
<p class="text-justify">Ở lĩnh vực thủy sản, các đơn hàng cá tra sang Trung Đông
cũng phải tạm hoãn hoặc giãn tiến độ. Doanh nghiệp rơi vào thế “tiến thoái lưỡng
nan”: tiếp tục giao hàng thì rủi ro cao, dừng lại thì nguy cơ mất thị trường.</p>
<p class="text-justify">Trước tình hình này, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã xây dựng
các kịch bản ứng phó theo hai giai đoạn.</p>
<p class="text-justify">Thứ nhất, trong ngắn hạn, Bộ kiến nghị Chính phủ ổn định giá
vật tư đầu vào như phân bón, xăng dầu và xem xét giảm thuế nhập khẩu mặt hàng
thiết yếu. Các giải pháp mở rộng tín dụng, giảm lãi suất và hỗ trợ vốn lưu động
được đề xuất để tránh đứt gãy chuỗi cung ứng. Bên cạnh đó, cần triển khai cơ chế
thu mua dự trữ lúa gạo và làm việc với các hãng tàu để ổn định tuyến vận chuyển,
hạn chế hủy chuyến đột ngột.</p>
<p class="text-justify">Thứ hai, về dài hạn, ngành nông nghiệp định hướng tái cấu
trúc, đa dạng hóa thị trường để giảm phụ thuộc vào các khu vực rủi ro địa chính
trị; đồng thời đẩy mạnh tiêu thụ nội địa và nâng cao chất lượng sản phẩm nhằm
thâm nhập sâu hơn vào các thị trường ổn định như EU, Mỹ, Nhật Bản. Điều này
giúp tăng cường khả năng chống chịu của ngành trước các cú sốc từ bên ngoài”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80870">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/ddb50a457232428198dcd8b908156706-80870.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 4">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80871" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/767d13ed6e0442a8b6b2b8ad8791702f-80871.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 5">
</figure>
<p class="text-justify">“Xung đột tại Trung Đông và giá nhiên liệu tăng cao đang tạo
áp lực lớn lên doanh nghiệp trong chuỗi cung ứng, vận tải và logistics. Sự biến
động này làm tăng đồng thời chi phí nhiên liệu, cước vận chuyển, phí bảo hiểm rủi
ro và chi phí vận hành toàn chuỗi. Các gián đoạn tại khu vực Trung Đông, đặc biệt
là với dòng chảy năng lượng và vận tải biển, còn làm gia tăng rủi ro chậm trễ,
thiếu ổn định lịch trình và gây sức ép lên hiệu quả sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp logistics.</p>
<p class="text-justify">Với Tổng công ty Bưu điện Việt Nam (Vietnam Post), biến động
giá nhiên liệu trong thời gian qua đã và đang tạo áp lực trực tiếp đến chi phí
vận hành, đặc biệt là chi phí vận chuyển, trung chuyển và tổ chức khai thác
trên toàn mạng lưới. Khi chi phí đầu vào tăng cao, doanh nghiệp sẽ chịu tác động
kép: vừa phải bảo đảm chất lượng dịch vụ, tiến độ phát hàng, vừa phải kiểm soát
chi phí để duy trì hiệu quả sản xuất kinh doanh và năng lực cạnh tranh trên thị
trường. Áp lực không chỉ dừng ở chi phí trực tiếp mà còn lan sang việc điều
hành phương tiện, tối ưu cung đường, tải trọng và cơ cấu dịch vụ.</p>
<p class="text-justify">Trong bối cảnh đó, Vietnam Post đã chủ động triển khai nhiều
giải pháp ứng phó như tăng cường rà soát, tối ưu chi phí vận hành, điều tiết sản
lượng và tải trọng hợp lý, nâng hiệu quả khai thác trên mạng lưới, đồng thời
nghiên cứu điều chỉnh chính sách giá, phụ phí ở mức phù hợp nhằm bù đắp một phần
chi phí tăng thêm nhưng vẫn bảo đảm hài hòa với khả năng chấp nhận của thị trường
và khách hàng.</p>
<p class="text-justify">Bên cạnh đó, Vietnam Post thắt chặt giám sát KPI tại công đoạn
thu gom nhằm rút ngắn thời gian toàn trình. Việc kiểm soát, khai thác lại hàng
hóa trước khi xuất cũng được tăng cường nhằm tránh hư hại hoặc phát sinh chi
phí vận chuyển do tăng trọng lượng quy đổi (DIM) của kiện hàng.</p>
<p class="text-justify">Để hỗ trợ ngành logistics, Vietnam Post kiến nghị các cơ
quan chức năng tiếp tục điều hành ổn định thị trường xăng dầu, đảm bảo nguồn
cung liên tục. Cần có các chính sách hỗ trợ giảm áp lực chi phí, hoàn thiện hạ
tầng đa phương thức và đẩy mạnh chuyển đổi số. Về dài hạn, cần cơ chế khuyến
khích đầu tư phương tiện tiết kiệm nhiên liệu và nâng cao sức chống chịu cho
chuỗi cung ứng, giữ được năng lực cạnh tranh trong bối cảnh giá năng lượng toàn
cầu còn nhiều biến động.</p>
<p class="text-justify">Vietnam Post khuyến nghị khách hàng thực hiện đóng, bọc kiện
hàng cẩn thận, lưu ý việc khai thông tin hàng hóa phải chi tiết, địa chỉ rõ
ràng, tránh việc thay đổi thông tin đơn hàng làm gián đoạn thời gian vận chuyển
hoặc ảnh hưởng đến việc khai thác hàng hóa khi phát hiện các mặt hàng không được
khai báo; đặc biệt là hạn chế gửi các mặt hàng giá trị cao đi các khu vực nhạy
cảm”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80872">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/ed2f405153cf4225adcc9faa998b391a-80872.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 6">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80873" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/b3ae4dbeb73840f7a20bb8499213a151-80873.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 7">
</figure>
<p class="text-justify">“Năm 2021, khi đại dịch Covid-19 xảy ra, phần lớn các nhà
máy bị đình trệ, chuỗi cung ứng bị gián đoạn. Tuy nhiên, trong bối cảnh đó, tôi
nhận thấy ngành thực phẩm lại có xu hướng tăng trưởng mạnh. Vì vậy, tôi chuyển
hướng sang xuất khẩu các mặt hàng như bún, bánh tráng, phở vào hệ thống siêu thị
tại châu Âu và Mỹ. Trong giai đoạn này, tôi tiếp tục mở rộng được thị trường
sang Mỹ, Pháp, Đức, Hàn Quốc.</p>
<p class="text-justify">Đến thời điểm hiện tại, khi ngành nông sản Việt Nam đang
tăng trưởng mạnh, tôi tiếp tục chuyển hướng sang lĩnh vực này. Việt Nam có lợi
thế rất lớn khi tham gia nhiều Hiệp định thương mại tự do, mở ra cơ hội tiếp cận
tới gần 190 quốc gia. Vì vậy, các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam hiện nay đang
được nhiều thị trường đón nhận.</p>
<p class="text-justify">Qua nhiều lần biến động của thị trường, tôi nhận thấy một điểm
chung là sau mỗi biến động, nhu cầu thường tăng mạnh hơn so với trước đó. Trong
bối cảnh hiện tại, tôi cho rằng nhu cầu trong thời gian tới sẽ còn tăng cao hơn
so với những năm gần đây.</p>
<p class="text-justify">Về sự chuẩn bị, công ty tôi đang tập trung nhiều hơn vào
nông sản để đón đầu làn sóng bù đắp hàng tồn kho của các thị trường. Đặc biệt
là các quốc gia vùng Vịnh và châu Âu – nơi đang chịu mức giá cao và cần cân đối
lại nguồn cung. Trước đây, chúng tôi đã xuất khẩu sang 16 quốc gia, tiêu biểu
là cà phê. Chất lượng nông sản Việt hiện được quốc tế đánh giá rất cao, khẳng định
vị thế là điểm đến đáng tin cậy.</p>
<p class="text-justify">Tôi cho rằng đây chính là “thời điểm vàng” để các doanh nghiệp
chủ động chào hàng và xây dựng mối quan hệ. Khi vận tải thông suốt và chi phí
logistics hạ nhiệt, khách hàng sẽ ưu tiên chọn những đối tác đã kiên trì kết nối
với họ từ trước. Sự chuẩn bị kỹ lưỡng trong giai đoạn này thậm chí còn quan trọng
hơn cả những thời điểm thị trường ổn định, giúp doanh nghiệp sẵn sàng bứt phá
khi đơn hàng quay lại”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80874">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/2b6e0adfd85c46df9434d8e856d9a750-80874.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 8">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80875" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/f71d361967694073aa6c691da74dbf23-80875.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 9">
</figure>
<p class="text-justify">“Khi thị trường Trung Đông gặp khó khăn, mỗi người sẽ có một
cách nhìn khác nhau. Với tôi, do đặc thù sản phẩm là trái cây tươi, nên rủi ro
logistics là rất lớn.</p>
<p class="text-justify">Trước đây tôi xuất hàng đi Dubai, nếu đi tàu nhanh thì thời
gian vận chuyển khoảng 18–20 ngày, cộng thêm khoảng 2 ngày làm thủ tục là có thể
bán được hàng ngay. Nhưng trong bối cảnh hiện tại, tàu phải chờ ở cảng trung
chuyển thêm 10–15 ngày, thì tổng thời gian kéo dài sẽ khiến hàng hóa bị hỏng
khi đến nơi. Do đó, định hướng của tôi năm nay là chuyển trọng tâm sang các thị
trường gần và ổn định hơn như Nhật Bản, Hàn Quốc và đặc biệt là Trung Quốc.</p>
<p class="text-justify">Trung Quốc là thị trường nhiều tiềm năng với quy mô dân số lớn
và văn hóa ẩm thực tương đồng với Việt Nam. Sức mua tại đây khổng lồ đến mức chỉ
cần thâm nhập thành công một tỉnh đã có thể tiêu thụ lượng hàng rất lớn. Tại
đây, mỗi khu vực lại có phân khúc khác nhau: Thượng Hải chuộng hàng cao cấp,
trong khi Vân Nam, Quảng Châu tiêu thụ nhiều sản phẩm phổ thông hơn.</p>
<p class="text-justify">Chính vì vậy, chiến lược của chúng tôi là phân loại sản phẩm
ngay từ đầu vào. Khi thu mua trực tiếp, chúng tôi bao tiêu toàn bộ sản lượng và
phân cấp chất lượng (loại 1, 2, 3) để phân phối vào các phân khúc tương ứng.
Cách làm này giúp tiêu thụ trọn vẹn hàng hóa, tránh lãng phí. Song song đó, bài
toán “không bỏ đi bất cứ thứ gì” vẫn được giữ xuyên suốt, từ việc tận dụng vỏ dừa
đến xây dựng hệ thống tuần hoàn xanh.</p>
<p class="text-justify">Một điểm quan trọng nữa là chi phí logistics sang Trung Quốc
hiện tại khá ổn định. So với các tuyến đường biển quốc tế, vận tải sang Trung
Quốc gần như không biến động nhiều về giá, giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong
kế hoạch. Mặc dù tiêu chuẩn tại thị trường này không quá khắt khe như châu Âu
hay Mỹ, nhưng có hai yêu cầu bắt buộc phải tuân thủ rất nghiêm ngặt, đó là mã
vùng trồng và mã cơ sở đóng gói.</p>
<p class="text-justify">Thực tế khi làm việc với đối tác Trung Quốc, chúng tôi gần
như không gặp vấn đề về thanh toán, vòng quay tiền nhanh. Đặc biệt, nhu cầu
tiêu thụ rất lớn, không chỉ phục vụ nội địa mà còn được tái xuất sang các thị
trường khác như Nga hoặc châu Âu. Vì vậy, trong bối cảnh hiện tại, đây là một
thị trường rất đáng để doanh nghiệp Việt Nam tập trung khai thác”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80876">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/bed59fbe71a1445ebc278b5239daa966-80876.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 10">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80877" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/ea4a2a5578d94322a71162f185feedb5-80877.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 11">
</figure>
<p class="text-justify">“Xung đột địa chính trị đang trực tiếp đẩy chi phí logistics
tăng cao và gây bất định cho chuỗi cung ứng ở cả ba phương thức vận tải chủ lực.
Trong đó, vận tải đường biển chịu ảnh hưởng nặng nề nhất tại các tuyến Trung
Đông. </p>
<p class="text-justify">Việc nhiều hãng tàu dừng nhận hàng hoặc chuyển hướng sang
các cảng thay thế như tại Ấn Độ đã làm phát sinh chi phí chuyển cảng, cước mới
và chỉnh sửa chứng từ lên đến khoảng 6.000 USD/container. Ngoài ra, phụ phí chiến
tranh từ 1.000 – 1.500 USD/TEU cùng phụ phí nhiên liệu tăng mạnh, cụ thể tuyến
châu Á tăng từ 50-150 USD/TEU và các tuyến châu Âu, Mỹ tăng từ 150-200 USD/TEU,
đang đè nặng lên doanh nghiệp.</p>
<p class="text-justify">Đối với vận tải hàng không, biến động giá dầu khiến cước bay
tuyến châu Á tăng 20–50%, trong khi tuyến châu Âu và Mỹ tăng khoảng 33–50%. Việc
áp dụng phụ phí nhiên liệu thay đổi theo ngày hoặc tuần khiến báo giá cực kỳ
khó đoán, buộc doanh nghiệp logistics phải gồng lỗ ngắn hạn đối với các hợp đồng
cam kết tải dài hạn đã ký. Song song đó, cước vận tải đường bộ cũng tăng từ
30–35% theo giá dầu. Do các hợp đồng cố định thường có độ trễ về điều chỉnh
giá, doanh nghiệp phải chấp nhận bù lỗ khi giá thuê thầu phụ biến động liên tục.</p>
<p class="text-justify">Trước tình hình này, chúng tôi chủ động triển khai các giải
pháp linh hoạt như tối ưu hóa vận hành, tăng cường khai thác hàng hai chiều để
giảm thiểu chạy rỗng và tiết kiệm chi phí. Chúng tôi đồng hành chặt chẽ cùng
khách hàng để xây dựng phương án logistics tối ưu và chấp nhận sẻ chia áp lực
chi phí. Đồng thời, doanh nghiệp phát huy thế mạnh đa phương thức, tận dụng giải
pháp trọn gói để linh hoạt hoán đổi phương án vận chuyển nhằm đảm bảo hiệu quả
tốt nhất về cả thời gian lẫn chi phí cho từng tuyến đường.</p>
<p class="text-justify">Để vượt qua cú sốc quốc tế, doanh nghiệp rất cần những hỗ trợ
thực tế từ cơ quan quản lý. Về ngắn hạn, chúng tôi đề xuất điều hành giá xăng dầu
linh hoạt, xem xét miễn giảm thuế phí logistics và đẩy mạnh cải cách thủ tục hải
quan để hàng hóa lưu thông nhanh hơn. Về dài hạn, Chính phủ cần tăng cường chia
sẻ thông tin dự báo thị trường chuẩn xác, đồng thời ban hành cơ chế khuyến
khích đầu tư mạnh mẽ vào hạ tầng kho bãi. Đây sẽ là “đòn bẩy” quan trọng giúp
ngành logistics Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ và sức cạnh tranh trên trường
quốc tế”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80878">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/2dad5695b2874c23b27ecaeee735a518-80878.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 12">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80879" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/369e838887e240deb3ce3f04ef6f5c4a-80879.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 13">
</figure>
<p class="text-justify">“Sau gần 4 năm xuất khẩu, tôi đã thực hiện hơn 500 container
với nhiều mặt hàng khác nhau như gỗ dán, ván bóc và hiện tại đang chuyển hướng
sang nông sản sang châu Âu, Ấn Độ và một số quốc gia khác. </p>
<p class="text-justify">Về vận tải biển, theo quan sát của tôi, những biến động về
cước tàu mang tính chu kỳ. Có thể nhìn lại thời điểm tháng 5/2024, khi Tổng thống
Mỹ Donald Trump áp thuế lên xe điện Trung Quốc, tạo ra làn sóng xuất khẩu lớn
trước thời điểm áp thuế, đã kéo theo tình trạng khan hiếm container rỗng, đẩy
cước tàu đi châu Âu lên mức 7.000–8.000 USD và Ấn Độ khoảng 3.000–4.000 USD (gấp
5 lần bình thường). Tuy nhiên, đây chỉ là sự biến động nhất thời. Đối với tình
hình hiện nay, theo dự đoán của tôi, cước tàu sẽ dần ổn định trong thời gian tới.
</p>
<p class="text-justify">Ở thời điểm hiện tại, doanh nghiệp cần theo dõi sát diễn biến
để tư vấn kịp thời cho đối tác. Trên thực tế, tôi đã trải qua nhiều chu kỳ thị
trường, có những thời điểm cước tàu tăng gấp 3–5 lần nhưng khách hàng vẫn chấp
nhận mua, bởi nỗi lo lớn nhất của họ là đứt gãy chuỗi cung ứng. Khi nhu cầu đủ
lớn, họ sẵn sàng chấp nhận chi phí cao hơn để đảm bảo nguồn hàng. Đây chính là
giai đoạn “sàng lọc” những doanh nghiệp có năng lực thực sự và là thời điểm để
tái cơ cấu chuỗi cung ứng.</p>
<p class="text-justify">Về chiến lược mặt hàng, tôi đang chuyển dịch mạnh sang nông
sản. Trong bối cảnh bất ổn, an ninh lương thực luôn là ưu tiên hàng đầu với nhu
cầu tiêu dùng bền vững. Việt Nam có lợi thế lớn về trái cây nhiệt đới – những sản
phẩm vốn rất được ưa chuộng và có giá trị cao tại các thị trường ôn đới. Riêng
với ngành gỗ, phân khúc gỗ dán phủ phim phục vụ xây dựng tại khu vực Trung Đông
cũng đang mở ra cơ hội rất lớn cho các doanh nghiệp biết nắm bắt.</p>
<p class="text-justify">Qua kinh nghiệm của tôi, sau mỗi biến động lớn, thị trường
thường phục hồi mạnh mẽ sau 3–6 tháng theo nguyên lý “lò xo nén”. Tôi dự báo từ
tháng 9 đến tháng 10/2026, nhu cầu sẽ tăng rất mạnh để phục vụ mùa mua sắm cuối
năm tại châu Âu và châu Mỹ. Do thời gian vận chuyển kéo dài từ 40–60 ngày,
doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị nguồn cung và thắt chặt quan hệ khách hàng
ngay từ bây giờ để kịp đưa hàng “lên kệ” vào tháng 12/2026”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80881">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/384d584e06be4b3aabd8352ef59cdf2e-80881.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 14">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80882" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/29fbab4685a44fe4a8d9a9f43425a5fb-80882.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 15">
</figure>
<p class="text-justify">“Ngành giống cây trồng Việt Nam đang chịu tác động từ biến động
địa chính trị toàn cầu, đặc biệt là căng thẳng tại Trung Đông. Tuy nhiên, do đặc
thù sản xuất mang tính mùa vụ, ảnh hưởng hiện tại chưa quá lớn. </p>
<p class="text-justify">Dù vậy, khó khăn đã xuất hiện rõ rệt ở khâu nhập khẩu. Biến
động tỷ giá cùng chi phí vận chuyển, bảo hiểm tăng cao đang đẩy giá hạt giống
nhập khẩu lên mức rủi ro. Đáng lo ngại nhất là nhóm hạt giống rau khi Việt Nam
hiện phải nhập khẩu khoảng 85-90% nguồn cung. Với cây lương thực chủ lực, dù giống
lúa thuần đáp ứng trên 90% nhu cầu gieo trồng cho khoảng 7 triệu ha mỗi năm,
nhưng với lúa lai, chúng ta vẫn phụ thuộc nhập khẩu khoảng 70-75%.</p>
<p class="text-justify">Trước tình hình này, các doanh nghiệp thuộc Hiệp hội Thương
mại Giống cây trồng Việt Nam đã chủ động tiết giảm chi phí, tối ưu hóa toàn bộ
chuỗi sản xuất nhằm giữ ổn định giá thành. Nhiều đơn vị chấp nhận giảm lợi nhuận
để hỗ trợ nông dân. Đây cũng là cơ hội để ngành tái cấu trúc, đẩy mạnh ứng dụng
công nghệ thông tin và trí tuệ nhân tạo (AI) vào quản trị. Việc cải tiến quy
trình, cắt giảm khâu trung gian giúp đưa giá hạt giống đến tay người dân ở mức
hợp lý hơn.</p>
<p class="text-justify">Để nâng cao năng lực tự chủ, ngành giống cần chiến lược dài
hạn, xác định đây là “khâu đột phá” trong chuỗi giá trị trồng trọt. Cần nâng
cao năng lực dự báo để đảm bảo an ninh giống và đẩy mạnh nghiên cứu, chọn tạo
giống mới. Về chính sách, Nhà nước cần hoàn thiện thể chế, điều chỉnh nguồn lực
cho Chương trình giống quốc gia và tạo môi trường thuận lợi để doanh nghiệp đầu
tư vào nghiên cứu. Điều này sẽ giúp giảm dần sự phụ thuộc vào nhập khẩu, hướng
tới sự phát triển bền vững cho nông nghiệp Việt Nam”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80883">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/e0b2de65b3714eedb3fa339d8e17aba5-80883.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 16">
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80884" data-aos="zoom-in-up" data-aos-duration="1000">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/3df2509fc41c4881a50b98366e978197-80884.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 17">
</figure>
<p class="text-justify">“Biến động kinh tế, chính trị hay thị trường là điều luôn xảy
ra hàng năm. Tuy nhiên, những người làm xuất khẩu luôn tìm được cơ hội trong những
biến động đó.</p>
<p class="text-justify">Tôi tin rằng sau giai đoạn khó khăn hiện tại, đặc biệt tại
khu vực Trung Đông, nhu cầu nhập khẩu sẽ tăng rất mạnh trong giai đoạn giữa và
cuối năm 2026. Đây là một khu vực có mức độ phụ thuộc nhập khẩu rất lớn, vì vậy
khi thị trường phục hồi, sức mua sẽ rất đáng kể. Hy vọng rằng các doanh nghiệp
Việt Nam có thể tận dụng tốt cơ hội này để mở rộng thị trường.</p>
<p class="text-justify">Thực tế, khi nhắc đến Trung Đông, nhiều người lo ngại thị
trường bị tắc nghẽn hoàn toàn do ảnh hưởng của xung đột, đặc biệt là tại eo biển
Hormuz. Tuy nhiên, cần nhìn nhận rằng thị trường không bị “đóng”, mà chỉ thay đổi
cách vận hành.</p>
<p class="text-justify">Hiện nay, các cảng chính như Dammam (Ả Rập Xê Út) hay Jebel
Ali (UAE) vẫn là những điểm nhập khẩu lớn, nhưng bên cạnh đó vẫn tồn tại các
phương án thay thế. Ví dụ, Ả Rập Xê Út có các cảng phía Tây kết nối qua Biển Đỏ,
còn Oman vẫn duy trì hoạt động bình thường và có thể trở thành điểm trung chuyển.</p>
<p class="text-justify">Doanh nghiệp tôi vẫn ký hợp đồng và nhận đặt cọc cho các đơn
hàng tháng 5 và tháng 6/2026 là minh chứng rõ nhất cho thấy thị trường vẫn đang
vận hành bình thường.</p>
<p class="text-justify">Theo quan sát của tôi, đây thực sự là giai đoạn “nghìn năm
có một” đối với doanh nghiệp Việt Nam. Bên cạnh chính sách hỗ trợ mạnh mẽ từ
Nghị quyết 68-NQ/TW, chúng ta có lợi thế về vị trí địa lý, nằm trên tuyến hàng
hải quốc tế; lợi thế về vận tải; lợi thế về thuế quan; đặc biệt là hệ thống các
Hiệp định thương mại tự do. Bên cạnh đó là lợi thế về con người – một lực lượng
lao động trẻ, năng động, sẵn sàng thích nghi.</p>
<p class="text-justify">Để tối ưu hóa cơ hội, doanh nghiệp cần tập trung vào ba chiến
lược trọng tâm.</p>
<p class="text-justify">Thứ nhất, đối với những thị trường mà doanh nghiệp đang khai
thác tốt, cần tiếp tục duy trì và khai thác tối đa. Biến động cước tàu không làm
giảm nhu cầu hàng thiết yếu; đôi khi mặt bằng giá mới còn giúp doanh nghiệp gia
tăng biên lợi nhuận.</p>
<p class="text-justify">Thứ hai, chủ động chuyển hướng sang các thị trường châu Á tiềm
năng như Philippines, Indonesia, Ấn Độ, Trung Quốc, Malaysia... Đây đều là những
thị trường đang có nhu cầu rất lớn và hoàn toàn có thể khai thác hiệu quả trong
giai đoạn hiện tại.</p>
<p class="text-justify">Thứ ba, doanh nghiệp cần chủ động chuẩn bị sẵn nguồn hàng và
hoàn thiện các chứng chỉ pháp lý. Khi tình hình Trung Đông ổn định, nhu cầu sẽ
bùng nổ ngay lập tức. Nếu chuẩn bị tốt, doanh nghiệp có thể ký hợp đồng nhanh,
giao hàng ngay và tận dụng được lợi thế về giá trong bối cảnh thị trường đang
thiếu cung.</p>
<p class="text-justify">Trong thời gian chờ thị trường Trung Đông phục hồi, các
doanh nghiệp vẫn cần duy trì tốt các thị trường hiện tại, tiếp tục chăm sóc
khách hàng và giữ vững quan hệ với các đối tác. Đây là nền tảng để đảm bảo dòng
đơn hàng ổn định, đồng thời tạo đà cho sự bứt phá khi thị trường lớn quay trở lại”.</p>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="80885">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/9ec417baa9fd4fdba0ab014ad4782fa7-80885.png" alt="Nâng cao sức chống chịu cho logistics và xuất khẩu - Ảnh 18">
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-</em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>Chùm ảnh: Khai mạc kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI </title><description>H#244;m nay (6/4), tại Hội trường Di#234;n Hồng, Nh#224; Quốc hội, Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội kh#243;a XVI đ#227; ch#237;nh thức khai mạc, đặt nền m#243;ng cho một giai đoạn ph#225;t triển mới của đất nước.</description><pubDate>Mon, 06 Apr 2026 02:41:01 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/chum-anh-khai-mac-ky-hop-thu-nhat-quoc-hoi-khoa-xvi.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/chum-anh-khai-mac-ky-hop-thu-nhat-quoc-hoi-khoa-xvi.htm</guid><atom:link href="/chum-anh-khai-mac-ky-hop-thu-nhat-quoc-hoi-khoa-xvi.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/06/e7fc4e55b8774076b1ef0bf6e244b3d8-81021.jpg?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Hôm nay (6/4), tại Hội trường Diên Hồng, Nhà Quốc hội, Kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã chính thức khai mạc, đặt nền móng cho một giai đoạn phát triển mới của đất nước.</h2><figure class="image detail__image align-stretch " id="81020">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/06/9b53f32734ca4691bdb394465d33cb51-81020.jpg" alt="Các đại biểu làm lễ chào cờ tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất Quốc hội khóa XVI - Ảnh TTXVN ">
<figcaption>Các đại biểu làm lễ chào cờ tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất Quốc hội khóa XVI - Ảnh TTXVN </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="81021">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/06/e7fc4e55b8774076b1ef0bf6e244b3d8-81021.jpg" alt="Tổng Bí thư và nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước - Ảnh TTXVN ">
<figcaption>Tổng Bí thư và nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước - Ảnh TTXVN </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="81022">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/06/9e0a6ebb4f954a3c949dc45896f711de-81022.jpg" alt="Các đại biểu dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất Quốc hội khóa XVI - Ảnh TTXVN ">
<figcaption>Các đại biểu dự phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất Quốc hội khóa XVI - Ảnh TTXVN </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="81023">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/06/730269627e604ee8b98ff17a450f0879-81023.jpg" alt="Tổng Bí thư Tô Lâm chào các đại biểu quốc hội - Ảnh TTXVN">
<figcaption>Tổng Bí thư Tô Lâm chào các đại biểu quốc hội - Ảnh TTXVN</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="81024">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/06/2a4a91c1520242b0855916e7daafcd85-81024.jpg" alt="Khách mời quốc tế tại phiên khai mạc - Ảnh TTXVN ">
<figcaption>Khách mời quốc tế tại phiên khai mạc - Ảnh TTXVN </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="81026">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/06/90c299855fa44e19aa48df8c2ebc8405-81026.jpg" alt="Nữ đại biểu Quốc hội tai phiên khai mạc - Ảnh TTXVN ">
<figcaption>Nữ đại biểu Quốc hội tai phiên khai mạc - Ảnh TTXVN </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="81029">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/06/c724b4be084448d99cc99d9545b7753d-81029.jpg" alt="Tổng Bí thư Tô Lâm chào các đại biểu Quốc hội.">
<figcaption>Tổng Bí thư Tô Lâm chào các đại biểu Quốc hội.</figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="81027">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/06/5d43728bb9a844bc912ffb8e0c01dafb-81027.jpg" alt="Lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng các đại biểu làm lễ chào cờ - Ảnh TTXVN ">
<figcaption>Lãnh đạo Đảng, Nhà nước cùng các đại biểu làm lễ chào cờ - Ảnh TTXVN </figcaption>
</figure>
<figure class="image detail__image align-stretch " id="81028">
<img src="/_premedia_/files/uploads/2026/04/06/9fa93961953e4e86a9cd3a0993e68536-81028.jpg" alt="Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI - Ảnh TTXVN ">
<figcaption>Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI - Ảnh TTXVN </figcaption>
</figure>
<p style='text-align:right;'><em>-Gia Kỳ </em><p> ]]></content:encoded></item><item><title>[Interactive]: Toàn cảnh kinh tế Việt Nam quý 1/2026</title><description>Nền kinh tế Việt Nam vẫn ghi nhận những t#237;n hiệu tăng trưởng t#237;ch cực trong qu#253; 1/2026 trong bối cảnh kinh tế to#224;n cầu tiếp tục đối mặt với nhiều bất ổn v#224; th#225;ch thức. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 7,83% so với c#249;ng kỳ năm trước, cho thấy đ#224; phục hồi v#224; khả năng chống chịu của nền kinh tế đang được củng cố...</description><pubDate>Sun, 05 Apr 2026 00:35:06 GMT</pubDate><link>https://6pg88vn.com/interactive-toan-canh-kinh-te-viet-nam-quy-12026.htm</link><guid>https://6pg88vn.com/interactive-toan-canh-kinh-te-viet-nam-quy-12026.htm</guid><atom:link href="/interactive-toan-canh-kinh-te-viet-nam-quy-12026.htm" rel="self" type="application/rss+xml" /><category>Multimedia</category><media:content xmlns:media="http://search.yahoo.com/mrss/" medium="image" url="https://6pg88vn.com/_premedia_/files/uploads/2026/04/04/d8c76cccd80b4b9eb1eecaa2f44753ca-80865.png?w=640&amp;h=360&amp;mode=crop" width="640" height="360" /><content:encoded><![CDATA[ <h2>Nền kinh tế Việt Nam vẫn ghi nhận những tín hiệu tăng trưởng tích cực trong quý 1/2026 trong bối cảnh kinh tế toàn cầu tiếp tục đối mặt với nhiều bất ổn và thách thức. Tổng sản phẩm trong nước (GDP) ước tăng 7,83% so với cùng kỳ năm trước, cho thấy đà phục hồi và khả năng chống chịu của nền kinh tế đang được củng cố...</h2><p style='text-align:right;'><em>-Tạp chí Kinh tế Việt Nam - VnEconomy</em><p> ]]></content:encoded></item></channel></rss>